trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 25:

 

 

THƯƠNG NGÔ TRÚC CHI CA

 

蒼梧竹枝歌

 

 

ĐIỆU CA TRÚC CHI Ở THƯƠNG NGÔ

 (Mười lăm bài)

 

                Bài 1                                  

 

Quế Lâm tân lạo dũng trường xuyên,     桂林新潦涌長川
Thuỷ ốc bằng cao dục thướng thiên.    
水屋憑高欲上天
Ngọ hậu đông phong xuy cánh cấp,      
午後東風吹更急
Văng lai vô số Quảng Đông thuyền.
  往來無數廣東船

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

Sông tràn nước ngập Quế Lâm,

Nhà trên sông nước cao dâng đến trời.

Xế trưa gió mạnh tơi bời,

Quảng Đông qua lại tới lui lắm thuyền.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Quế Lâm nước lụt mới dâng, con sông dài nước chảy cuồn cuộn mạnh bạo. Những nhà bè trên nước nổi cao muốn lên trời! Xế trưa, cơn gió phía đông thổi càng lúc càng lớn. Rất nhiều chiếc thuyền Quảng Đông qua lại.

 

CHÚ THÍCH:

                                                                                             

 

枝歌  Trúc chi ca: c̣n gọi là “Trúc chi từ” là điệu hát dân gian có từ xưa bên Trung Hoa.
桂林  Quế Lâm:  vùng đất ở Thương Ngô nay thuộc Quảng Tây.
  bằng:

dựa vào, gửi gắm, chứng cứ (bằng chứng), đầy đủ.

     

 

 

 

 

ĐIỆU CA TRÚC CHI Ở THƯƠNG NGÔ

 

           Bài 2                                     

 

 

Văn Xương các thượng dạ đăng minh,   文昌閣上夜燈明
Nhất phiến hàn quang xạ thuỷ tinh.        
一片寒光射水晶
Lai văng du thuyền bất tri số,                
來往遊船不知數
Măn giang tề phát trạo ca thanh.
     滿江齊發棹哥聲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

Đèn đêm sáng gác Văn Xương,

Nước trong lạnh lẽo bắn luồng sáng ra.

Du thuyền lắm chiếc lại qua,

Khắp sông vang tiếng ḥ ca chèo thuyền.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Trên gác Văn Xương về đêm đèn sáng rực. Một luồng sáng lạnh lẽo bắn ra từ làn nước trong như gương. Các chiếc du thuyền qua lại không thể đếm cho hết được. Đầy sông tiếng ḥ ca chèo thuyền cùng phát ra.

 

CHÚ THÍCH:

                              

 

  xạ: bắn ra, dung cung nỏ bắn tên ra, phỏng đoán, tác động.
水晶 thủy tinh: vật dụng trong suốt làm từ cát, gương kính.
  tề: đều, cùng, ngang nhau, nhanh chóng, tề chỉnh, giới hạn.
     

 

 

 

 

 

ĐIỆU CA TRÚC CHI Ở THƯƠNG NGÔ
 

                      Bài 3                                        

 

Vũ tự bàng đà vân tự si,                   雨自滂沱雲自癡
Cửu Nghi sơn sắc vọng trung nghi. 
九疑山色望中疑
Ngu Vương táng xứ vô khâu mộ,     
虞王葬處無丘墓
Thuỷ diện huyền thanh tự nhị phi.
 水面絃聲似二妃

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

Mưa tuôn tầm tả mây cuồng,

Cửu Nghi sắc núi nh́n không rơ nào!

Vua Ngu mộ táng chốn nao?

Tiếng đàn mặt nước tưởng đâu hai bà.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Mưa tầm tả như trút nước, c̣n mây như đang cuồng dại. Dáng sắc núi Cửu Nghi trông không được rơ lắm. Chốn nào là nơi chôn cất vua nhà Ngu? Trên mặt nước có tiếng đàn nghe như tiếng đàn của hai bà phi.

 

CHÚ THÍCH:

                                   

 

滂沱 bàng đà: mưa tầm tả như trút nước trên một khu vực rộng lớn; mưa lênh láng.
  si: mê dại, cuồng dại, thẫn thờ, không làm chủ được ḿnh.
  nghi: ngờ vực, không phân biệt rơ, hơi giống, sợ hăi.
Cửu Nghi, Ngu Vương, Nhị phi: xem C.T bài 23.
     
     

 

 

 


 

 

 

 

 

Đón xem Bài số 25 - 04, 05, 06

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com