trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 23:

 

 

THƯƠNG NGÔ TỨC SỰ

 

    蒼梧即事

 

 

Ngu đế nam tuần cánh bất hoàn,         虞帝南巡更不還
Nhị phi sái lệ trúc thành ban.            
二妃洒淚竹成班
Du du trần tích thiên niên thượng,     
悠悠陳跡千年上
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian.    
歷歷群書一望間
Tân lạo sơ thiêm tam xích thuỷ,         
新潦初添三尺水
Phù vân bất biện Cửu Nghi san,        
浮雲不辨九疑山
Tầm thanh dao tạ tỳ bà ngữ.              
尋聲遙謝琵琶語
Thiên lư thanh sam bất nại hàn.         
千里青衫不耐寒

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

TỨC CẢNH THƯƠNG NGÔ

 

Không về, Ngu đế tuần nam,

Hai phi lệ vẩy trúc loang đốm rồi!

Ngàn năm dấu cũ xa xôi,

Trải bao sách vở hé vời rơ hơn.

Lũ thêm ba thước mới dâng,

Cửu Nghi không thấy, mây vần giăng trôi.

T́ bà tạ tiếng vẳng lơi,

Áo xanh ngàn dặm rét trời chẳng kham!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Vua nhà Ngu đi tuần thú phương nam không trở về; hai người phi lệ trào vẩy vào những khóm trúc thành những đốm loang lổ. Ngàn năm dấu vết xưa cũ vẫn c̣n ghi trong sách vở nên hé nh́n thấy rơ ràng. Nước lũ lại dâng thêm ba thước nước. Những đám mây trôi giăng giăng khiến không thấy rơ được núi Cửu Nghi. Tiếng t́ bà vẫn như cũ văng vẳng nhưng phải tạ từ thôi. Chiếc áo xanh ở nơi ngàn dặm đến đây không chịu được cái rét lạnh căm.


CHÚ THÍCH:

                                                                                             

 

蒼梧 Thương Ngô: ở miền nam Trung Hoa có hai địa danh này: một ở Quảng Tây và một ở Hà Nam. Theo sách Sử Kư chép vua Thuấn nước Ngu là một trong những vị vua hiền giỏi của thời cổ sử T.H đi tuần thú, xem xét dân t́nh ở phía nam và bị bệnh mất chôn ở Thương Ngô.
二妃 nhị phi: tức Nga Hoàng và Nữ Anh vợ vua Thuấn nước Ngu (nay thuộc tỉnh Sơn Tây-T.H) nghe tin chồng mất khóc lóc thảm thiết, nước mắt vẩy ra làm loang lổ các khóm trúc.
   sái: vẩy ra, bắn ra, lạnh run…
  ban: loang lổ, khắp nơi, ban phát, trở về, ngay ngắn…
悠悠  du du: xa xôi, xa tít, xa thẳm.
陳跡  trần tích: dấu vết cũ.
歷歷 lịch lịch: rành rẽ, rơ ràng, trải qua, tiếng thú kêu.
  gian: ở giữa, khoảng giữa, hé thấy, vào khoảng.
  thiêm:  thêm vào, thêm nhiều.
九疑  Cửu Nghi:  chín ngọn núi rất giống nhau ở vùng Thương Ngô 
     

 

 

 

 

 

Bài 24:

 

THƯƠNG NGÔ MỘ VŨ

 

   蒼梧暮雨

 

 

Vũ trệ Tầm giang hiểu phát tŕ,            雨滯潯江曉發遲
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi.      
梧城薄暮尚霏霏
Nhất giang tân lạo b́nh Tam Sở,         
一江新潦平三楚
Đại bán phù vân trú Cửu Nghi.           
大半浮雲駐九疑
Trách trách tiểu chu nan quá Hạ,         
窄窄小舟難過夏
Tam tam trường phát tự tri Di.            
鬖鬖長髮自知夷
B́nh ba nhật mộ Tương Đàm viễn,      
平波日暮湘潭遠
Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi.
             杯酒憑欄吊二妃

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

MƯA LÚC CHIỀU TỐI Ở THƯƠNG NGÔ

 

Sông Tầm mưa sớm chậm đi,

Thành Ngô dừng lại chiều về mưa tuôn.

Ḍng sông Tam Sở lũ dâng,

Cửu Nghi hơn nửa mây dừng giăng giăng.

Thuyền con đất Hạ khó sang,

Tóc dài thườn thượt biết rằng người Man.

Chiều hôm xa lắm Tương Đàm,

Tựa thuyền rượu viếng hai nàng phi thôi.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Cơn mưa sớm ở sông Tầm làm chậm lại chuyến đi. Buổi chiều tối mưa vẫn c̣n tuôn tầm tả, phải dừng lại nghỉ ở thành Ngô. Nước lũ tràn về từ ḍng sông làm ngập khắp vùng Tam Sở. Hơn nửa đám mây trời dừng lại ở núi Cửu Nghi. Chiếc thuyền nhỏ chật hẹp nên rất khó đến được vùng Hoa Hạ. Mái tóc đă buông rủ dài thượt cho biết đây là người từ phía đông  ở xa đến. Sóng êm nhưng trời đă tối nên Tương Đàm hăy c̣n xa lắm. Dựa vào lan can thuyền rót ly rượu viếng hai bà phi thôi.

 

 

CHÚ THÍCH:

                   

                                                 

 

潯江  Tầm giang: sông chảy qua Thương Ngô (Quế B́nh, Quảng Tây, T.H).
hiểu: sáng sớm, lúc trời mới sáng.
  trệ: tŕ trệ, không thông suốt, chậm lại, đọng lại.
   tŕ: chậm chạp, đi chậm răi.
  bạc: dừng lại, rèm, mỏng manh, xem nhẹ, rậm rạp…
霏霏  phi phi:  mưa dầm dề, mưa lớn kéo dài, mưa lả tả.
三楚  Tam Sở: bao gồm Tây Sở, Đông Sở và Nam Sở nay thuộc vùng Hồ Nam, Hồ Bắc T.H.
  trú:  xe ngựa dừng lại, dừng nghỉ ngơi, giữ lại, lưu lại.
窄窄 trách trách: chật chội, chật hẹp, nhỏ nhoi.
   Hạ: c̣n gọi là vùng Hoa Hạ gồm Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông ở T.H.
Di: dân tộc ít người ở phương đông. Kinh Lễ: Đông phương viết “di” (người phương đông gọi là di), người phương bắc là “địch”. Người Hán vẫn tự tôn cho là ḿnh văn minh hơn hẳn các dân tộc khác và gọi các nước chung quanh là “di” hoặc “man di” (Nam phương viết man) với thái độ khinh thị, coi thường. Ở đây Nguyễn Du tự cho ḿnh là người từ phương xa đến Trung Hoa chứ không phải tự hạ ḿnh trước nước lớn. Dẫu sao, ít nhiều các nhà nho thời trước vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa cả trong ngôn từ thường ngày cũng như trong văn chương. Đó là hậu quả không tránh khỏi của một đất nước phải chịu đựng cả ngàn năm phải lệ thuộc phương bắc, một nước nhỏ do địa lư phải chịu làm lân bang của một nước lớn đầy tham vọng, cũng như phải gánh lấy biết bao áp lực cùng dă tâm xâm lấn của bọn cầm quyền thống trị phía bắc.
鬖鬖 tam tam: dáng rủ xuống, tóc buông rủ.
     

 

        


 

 

 

 

 

Xem Bài số 25 - 01, 02, 03

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com