trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 17:

 

 

VĂN HÁ ĐẠI THAN TÂN LẠO BẠO

TRƯỚNG CHƯ HIỂM CÂU THẤT

 

  晚下大灘新潦暴漲諸險俱失

 

 

Ngân hà tạc dạ tự thiên khuynh,             銀河昨夜自天傾
Giang thuỷ mang mang giang ngạn b́nh.
江水茫茫江岸平
Vị tín quỉ thần năng tướng hựu,            
未信鬼神能相佑
Tẫn giao long hổ thất tinh linh.              
盡教龍虎失精靈
B́nh cư bất hội giảng trung tín,              
平居不會講忠信
Đáo xứ vô phương tề tử sinh.                 
到處無妨薺死生
Cánh hữu hiểm hi nhiêu thập bội,           
更有嶮巇饒十倍
Ngô tương hà dĩ khấu thần minh.             吾將何以叩神明

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CHIỀU VỀ XUÔI D̉NG ĐẠI THAN,

NƯỚC LŨ MỚI DÂNG NHANH

NGẬP HẾT NHỮNG NƠI HIỂM TRỞ

 

Sông Ngân trời trút đêm rồi,

Bờ sông lênh láng tơi bời nước dâng.

Chưa tin thần quỉ giúp cùng,

Khiến linh thiêng ở cọp rồng cũng không.

Sống thường chẳng học tín trung,

Đến khi sống chết lúc cùng giống nhau.

Mười mươi hiểm trở biết bao,

Lấy ǵ ta cúi lạy cầu thần minh?!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Nước từ sông Ngân đêm qua từ trời thiêng trút xuống làm nước sông lênh láng khắp nơi dâng ngập bờ sông. Chưa tin là quỉ thần sẽ giúp được. Ở vào cảnh này sẽ khiến cho loài rồng loài hổ cũng hết sự linh thiêng. Sống thường không chăm học sự trung tín thẳng ngay đến khi gặp chốn cùng cực không thể xoay trở được đành xem sự sống c̣n, mất mát như nhau! Sẽ c̣n nhiều gấp mười lần những hiểm nguy trở ngại, hỏi rằng ta sẽ lấy ǵ để cầu khẩn thần linh đây?


CHÚ THÍCH:

                                                                              

 

   bạo: mạnh bạo, nhanh chóng, th́nh ĺnh, hao tổn, ngạo ngược.
   câu: đều, cùng, giống.
茫茫  mang mang: mênh mông, trải khắp, lênh láng nơi nơi.
  hựu: giúp đỡ, cứu giúp.
盡教  tẫn giao: khiến cho.
精靈   tinh linh: linh thiêng, linh hiển, sự kỳ diệu của thế giới vô h́nh không thể diễn tả được hết.
不會講  bất hội giảng: không tập trung, họp lại để học hỏi, không được giảng giải học tập.
忠信  trung tín: ḷng thành thật ngay thẳng, ḷng tin tưởng thật ḷng.
無妨  vô phương: bế tắc, không c̣n chỗ để xoay trở.
嶮巇  hiểm hi: (hay hi hiểm) đường núi hiểm trở nguy hiểm và khó đi.
  khấu: cúi đầu cầu xin, cúi lạy để cầu ơn trên.
     

 

 

 

 

 

Bài 18:

 

HÁ THAN HỈ PHÚ

 

    下灘喜賦

 

 

Tâm hương bái đảo tướng quân t́ (từ),   心香拜禱將軍祠
Nhất trạo trung lưu tứ sở chi.                 
一掉中流肆所之
Đáo xứ giang sơn như thức thú,              
到處江山如識趣
Hỷ nhân xà hổ bất thị uy.                        
喜人蛇虎不施威
Vạn châu tùng thụ tăng nhân ốc,              
萬株松樹僧人屋
Nhất đái hàn yên Yến Tử ky.                 
一帶寒煙燕子磯
Tịch tịch thuyền song vô cá sự,              
寂寂船窗無箇事
Ngư ca giang thượng khán tà huy.           漁歌江上看斜暉

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

LÀM THƠ MỪNG KHI XUỐNG GHỀNH

 

Vái đền ông tướng hương ḷng,

Mái chèo buông lỏng giữa ḍng sông trôi.

Đến đâu sông núi quen rồi,

Đâu cần cọp rắn mừng người ra oai.

Nhà sư: muôn gốc tùng đây,

Kia là ḥn Yến lạnh bày khói giăng.

Lặng ngồi thuyền chẳng việc vàng,

Ngắm chài ca hát chiều tàn trên sông.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Nén hương ḷng xin bái lạy nơi đền ông tướng. Một mái chèo buông lỏng giữa ḍng nước chảy. Đến chốn nào cũng như đă từng quen biết sông núi rồi. Mừng người, loài rắn hổ không ra oai. Nơi có muôn gốc cây tùng chính là chỗ ở của các nhà sư. Một dăi khói lạnh lẽo kia là ḥn Yến. Bên cửa sổ thuyền ta lặng lẽ ngồi chẳng có việc vàng nào cả để nghe tiếng dân chài ca hát và ngắm nh́n bóng chiều tà trên sông.

 

CHÚ THÍCH:

                                                 

 

  phú:

làm thơ, thể “phú” của thơ văn cổ kết hợp văn vần với văn xuôi, cấp phát, giao cho, binh lính, ban bố, nạp thuế.

  than: ghềnh nước có đá lởm chởm, băi cát bày lộ ra khi nước rút.
   tứ:  buông lỏng, thả lỏng ra, bày ra, thử qua.
識趣  thức thú: quen biết và nhiều thích thú.
   ky: băi đá ở giữa sông, ḥn đá giữa nước, vách đá kè bờ sông, ngăn nước.
     

 

           
 


 

 

 

 

 

Xem Bài số 19 - 20

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com