trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 108:


 

HOÀNG MAI SƠN THƯỢNG THÔN

 

 黃梅山上村

 

1  Sơn hạ hữu trường tùng, 山下有長松
Sơn thượng hữu dao thôn.
山上有遙村
Sơn hạ trường tùng sao,
山下長松梢

Chính đương sơn thượng môn. 正當山上門
Môn nội sở cư nhân,
內所居人
Cùng niên hà sở vi?
窮年何所為
Nữ sự duy tích ma,
女事惟績麻

8  Ḱ nam nghiệp vân t́. 其男業耘耔
Vân tỉ cẩu đắc nhàn,
耘耔苟得閒
Há sơn phạt tùng chi.
下山伐松枝
Liêu dĩ túc quan thuế,
聊以足官

 

12  Bất sự thư dữ thi. 不事書與詩
Thôi tô nhất bất đáo,
催租一不到
Kê khuyển giai hi hi.
雞犬皆熙熙
Mật thạch ngại xa mă,
密石礙車馬

16  Tạp hoa đương tuế th́. 雜花當歲時
Sơn ngoại hưng dữ phế,
山外興與廢
Sơn trung giai bất tri.
山中皆不知
Toán lai nhất niên trung,
算來一年中

20  Sở ưu vô nhất th́. 所憂無一時
Sở dĩ sơn trung nhân,
所以山中人
Nhân nhân giai kỳ di.
人人皆

Tùng hoa bách tử khẳng hứa thực,
松花柏子肯許食

24  Bạch đầu khứ thử tương an quy. 白頭去此將安歸

 

 

 

TẠM CHUYỀN LỤC BÁT:

 

 

THÔN XÓM TRÊN NÚI HOÀNG MAI

 

1  Thông cao ở dưới chân non,

Xóm thôn trên núi trông c̣n xa xôi.

Ngọn thông chân núi cao vời,

Ngang tầm với cổng nhà nơi non này.

Những người trong cổng ở đây,

Việc ǵ làm măi thế này suốt năm?

Đàn bà xe sợi gai giăng,

8  Đàn ông vun lúa, cỏ chăm dọn làm.

Lúa vun, làm cỏ tạm nhàn,

Xuống chân núi chặt những nhành thông thôi!

Lấy vừa đủ thuế quan rồi,

12  Sách thơ việc ấy không đời nào hay.

Thúc tô không tới nơi này,

Chó gà đều được vui vầy nhởn nhơ.

Ngựa xe lắm đá cản hờ,

16  Bao hoa đang nở sẽ cho biết mùa.

Ngoài non lên xuống được thua,

Bên trong núi ấy đều chưa hay ǵ!

Tính rằng suốt một năm đi,

20  Chẳng bao giờ phải nghĩ ǵ lo toan.

Cho nên người ở non ngàn,

Người người tuổi cũng vào hàng trăm năm.

Hoa thông, hạt bách được ăn,

24  Bạc đầu về với chốn an vui này!

 

 

DỊCH NGHĨA:

 

Dưới chân núi có hàng thông cao; trên núi có thôn xóm ở xa xa. Ngọn thông dưới chân núi cao ngang với những cổng nhà trên núi. Những người ở trong cổng ấy quanh năm làm những việc ǵ? Đàn bà chuyên xe sợi gai, đàn ông th́ vun lúa, làm cỏ. Lúc vun lúa, làm cỏ được nhàn rỗi đi xuống chân núi chặt những nhành thông lấy đủ bán nộp đủ thuế cho quan. Sách và thơ không việc ǵ cần đến. Người thúc tô thuế không lần nào đến; chó gà đều nhởn nhơ vui vầy. Đá dày đặc làm cản trở xe ngựa. Nhiều loài hoa cho biết đang ở mùa nào. Bên ngoài núi chuyện được thua, hưng thịnh hay tàn phai, ở trong núi đều chẳng ai biết. Tính lại trong một năm không lúc nào phải lo lắng. V́ thế người ở trong núi, mọi người đều sống cả trăm tuổi. Nếu hoa tùng và hoa bách mà ăn được để lúc mái đầu đă bạc về nơi như thế này cùng chung sống an vui.

 

CHÚ THÍCH:

 

 

遙村 dao thôn:  thôn xóm ở xa xa.
sao:  ngọn cây.
đương: ngang tầm, giữ trách nhiệm, giữa khi, đứng chắn…
績麻 tích ma: xe, đánh sợi đay gai.
耘耔 vân tỉ: làm cỏ, chăm cây, vun lúa…
熙熙 hi hi: hớn hở, nhởn nhơ, vui lây.
mật:  dày đặc, kín, rậm rạp.
toán: sắp xếp, tính toán.
ḱ di: người già trăm tuổi.
bách: cây trắc bách hoặc biển bách thuộc loại cây sống lâu đời.
 

 

 

 

Bài 109:

 

CHU PHÁT

 舟發
 

Khứ biến đông nam lộ, 去遍東南路
Thông thông tuế dục chu.
匆匆歲欲週

Tiện ṭng Giang Hán khẩu,
便
從江漢口
Lai phiếm Động Đ́nh chu.
來泛洞庭舟
Nhân tỉ lai thời sấu,
人比來時瘦
Giang đồng khứ nhật thu.
江同去日秋
Hạc lâu thành vịnh xứ,
鶴樓成詠處
Bạch vân không du du.
白雲空悠悠

 

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

THUYỀN RA ĐI

 

Đường đi khắp chốn đông nam,

Năm đà sắp hết vội vàng ruổi rong.

Cửa sông Giang Hán thuận ḍng,

Động Đ́nh đi đến bềnh bồng thuyền trôi.

Người so lúc đến ốm oi,

Sông thu vẫn thế như hồi đến đây,

Vịnh ngâm lầu Hạc nơi này,

Xa xa trôi măi đám mây trắng ngần.

 

DỊCH NGHĨA:

Đi khắp các con đường phía đông nam rất vội vàng v́ năm giục giă sắp hết đến nơi. Xuôi ḍng từ cửa sông vùng Giang Hán, thuyền lại bồng bềnh đi qua hồ Động Đ́nh. So lúc mới đến, người th́ ốm oi gầy xấu hơn. Cảnh sông vào mùa thu vẫn giống khi ngày đến đây. Chỗ ngâm vịnh nơi lầu Hoàng Hạc vẫn có những đám mây trắng trôi xa xa.

 

CHÚ THÍCH:

 

Tháng chạp năm Quí Dậu (1813) sứ đoàn do Nguyễn Du dẫn đầu sang nhà Thanh tuế cống đă về lại vùng Vũ Xương, Hồ Bắc, rồi theo đường thủy qua hồ Động Đ́nh hồ xuôi về nam.

 

 

匆匆 thông thông: vội vàng, gấp gáp.
chu: rong ruổi.
歲週 tuế chu: năm sắp hết, một ṿng của năm.
便 tiện: thuận tiện, yên ổn, tùy nghi, liền.
ṭng:  đi theo, thuận theo, xuôi theo.
江漢口 Giang Hán Khẩu:  chỗ Trường Giang gặp sông Hán ở Hồ Bắc.
phiếm: trôi nổi, lênh đênh, bồng bềnh.
tỉ:  so sánh.
sấu: gầy ốm, xấu xí.
câu cuối:   lấy ư từ bài thơ của Thôi Hiệu đề vào vách của lầu Hoàng Hạc (xem CT bài 48 Hoàng Hạc Lâu).
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com