trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 106:


 

LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ
PHÂN KINH THẠCH ĐÀI

   梁昭明太子分經石臺

 

1   Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ, 梁朝昭明太子分經處
Thạch đài do kí "Phân kinh" tự. 石臺猶記分經字
Đài cơ vu một vũ hoa trung,   
臺基蕪沒雨花中

4   Bách thảo kinh hàn tận khô tử.
 
百草驚寒盡枯死
Bất kiến di kinh tại hà sở,  
不見遺經在何所
Văng sự không truyền Lương thái tử.
往事空傳梁太子
Thái tử niên thiếu nịch ư văn, 
太子年少溺菸文

8   Cưỡng tác giải sự đồ phân phân.
強作解事徒紛紛
Phật bản thị không bất trước vật,
佛本是空不著物
Hà hữu hồ kinh, an dụng phân?
何有乎經安用分
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa, 靈文不在言語科

12 Thục vi Kim Cương, vi Pháp Hoa?
 
孰為金剛為法華
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

色空境界茫不悟

Si tâm quy Phật, Phật sinh ma.
 
癡心歸佛佛生魔
Nhất môn phụ tử đa giao tế,
一門父子多膠蔽

16 Nhất niệm chi trung ma, tự chí.
一念之中魔自至
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài,
山陵不涌蓮花臺
Bạch mă triêu độ Trường Giang thủy.
 
白馬朝渡長江水
Sở lâm họa mộc,  tŕ ương ngư,
 
楚林禍木池殃魚

20 Kinh quyển thiêu hôi, đài diệc dĩ.
 
經卷燒灰臺亦

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,
 
空留無益萬千言
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ. 後世愚僧徒聒耳
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,
吾聞世尊在靈山

24 Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số.
 
說法渡人如
河沙數
Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,
人了此心人自渡
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. 
靈山只在汝心頭
Minh kính diệc phi đài,  
明鏡亦非臺

28 Bồ Đề bản vô thụ.  菩提本無樹
Ngă độc Kim Cương thiên biến linh,
我讀金剛千遍零
Ḱ trung áo chỉ đa bất minh. 
其中奧旨多不明
Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ,
及到分經石臺下

32 Tài tri vô tự thị chân kinh. 知無字是眞經

 

 

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐÀI ĐÁ “CHIA KINH” CỦA THÁI TỬ LƯƠNG CHIÊU MINH

 

1     Triều Lương, thái tử “Chiêu Minh”,

Ghi trên đài đá “Chia kinh” chữ bày.

Trong mưa rậm khuất chân đài,

4     Chết khô bởi lạnh trăm loài cỏ nao.

Kinh không thấy để nơi đâu!

Chuyện Lương thái tử truyền trao xưa rồi:

Mê văn thái tử thiếu thời,

8     Mù mờ gượng gạo rối bời chia phân.

Chẳng nương vật, Phật vốn không,

Kinh kia nào có sao ḥng phân chia.

Văn thiêng đâu chỉ nói năng,

12    Pháp Hoa với lại Kim Cang là ǵ?

Sắc không mờ mịt thấy chi!

Ḷng mê theo Phật, Phật th́ sinh ma.

Cha con mù quáng một nhà,

16    Từ trong ư nghĩ sinh ma kia vào.

Đài sen lăng núi mọc đâu?

Trường Giang ngựa trắng sáng nào vượt sông.

Cây rừng, cá Sở nạn vong!

20    Quyển kinh cháy rụi, đài không c̣n ǵ.

Muôn ngàn lời viết ích chi!?

Đời sau tăng dốt tụng hoài rát tai.

Linh San nghe Phật nơi nầy,

24 Cứu người giảng pháp nhiều thay cát Hằng.

Cứu ḿnh, tâm biết rơ ràng,

Chỉ tâm mới có Linh San trong này.

Gương trong chẳng phải là đài,

28     Bồ Đề vốn chẳng có cây nào rồi!

Kim Cương ta đọc muôn lời,

Sâu xa nhiều ư chẳng khơi rơ bày.

“Chia kinh” kịp đến chân đài,

32 Mới hay “không chữ” kinh đây thực rồi.

 

DỊCH NGHĨA:


Ở nơi thái tử triều nhà Lương tên là Chiêu Minh đem kinh để chia phân vẫn c̣n đài đá có ghi chữ “Chia kinh”. Nền đài bị cây dại rậm rạp khuất lấp trong cơn mưa. Cả trăm loài cây cỏ đều sợ lạnh chết khô hết thảy! Không hề thấy kinh c̣n sót lại ở nơi nào. Nghe đồn đại, truyền rao chuyện Lương thái tử ngày xưa khi c̣n trẻ tuổi đă mê đắm thú văn chương, gượng gạo làm chuyện đem kinh ra để chia phân. Đạo Phật vốn (đặt trên nền tảng) mang tính KHÔNG, chẳng nương dựa vào vật. Nên đâu có kinh để mà phân chia? Văn chương linh ứng đâu ở chỗ của khoa ăn nói?! Ai bảo kinh Kim Cương là ǵ, kinh Pháp Hoa là ǵ! Cảnh giới sắc và không mù mờ không rơ được. Theo Phật với ḷng u mê th́ Phật sẽ sinh ra ma chướng. Một nhà cả hai cha con đều mù quáng. Ở trong một suy nghĩ đă có ma t́m đến. Đài sen không mọc chốn lăng tẩm trong núi. Một sớm nào con ngựa trắng đă vượt qua ḍng Trường Giang, cây và rừng nước Sở bị tai họa, cá dưới ao cũng bị nạn lây. Cuốn kinh bị cháy ra tro, đài cũng sụp đổ hủy hoại. Ngàn muôn lời để lại rỗng tếch đều vô ích, chỉ để cho lũ tăng đọc om ṣm rát tai. Ta nghe đức Thế Tôn ở Linh San giảng pháp cứu người như cát sông Hằng nhiều vô kể. Người hiểu biết tường tận chữ tâm để cứu giúp được chính ḿnh. Linh San cũng chỉ ở ḷng người, gương sáng không phải là đài, bồ đề vốn không phải là cây. Ta đọc kinh Kim Cương hơn ngàn lần. Những điều sâu xa trong đó nhiều chỗ không hiểu rơ. Kịp đến dưới đài “Chia kinh” này mới biết “không chữ” mới thực là kinh.

 

CHÚ THÍCH:

Như đă đề cập trong phần giới thiệu tập I (Thanh Hiên Tiền Hậu Tập) Nguyễn Du vốn là người mến mộ đạo Phật từng nghiên cứu kinh Kim Cương Bát Nhă cũng như thực hành để cho tâm không rời xa thiền học (“Thử tâm thiền định bất ly thiền…”_Đề Nhị Thanh Động). Đây là một bài thơ quan trọng đánh dấu sự thấu đạt, ngộ ra bản chất của đạo Phật của Tố Như (xem Ảnh Hưởng Đạo Phật Trong Đoạn Trường Tân Thanh, cùng người soạn). Quá tŕnh t́m hiểu đạo Phật qua tư tưởng thiền tông đă giúp ông dần dà hiểu rơ chữ tâm trong tư tưởng thiền. Kịp đến khi đi sứ Trung Hoa đến “Phân Kinh Thạch Đài” ông đă ngộ được “Kinh không chữ mới thực là chân kinh”. Câu thơ cuối cùng ấy là ǵ nếu không phải là sự chứng ngộ của một Tố Như để sau này h́nh thành Đoạn Trường Tân Thanh giàu chất thiền và tư tưởng giải thoát của đạo Phật dù dưới cái nh́n của một người giác ngộ  theo một cách riêng, c̣n ở tục đế và c̣n phải hướng đến tŕnh độ giác ngộ cao hơn nữa của chân đế.
 

 

梁昭明  Lương Chiêu Minh: thái tử nhà Lương (là một trong bốn triều đ́nh thời Nam Bắc triều gồm: Tống, Lễ, Lương, Trần) tên là Lương Chiêu Tống, con trai của Lương Vũ Đế Chiêu Diễn (502-549). Lương Vũ Đế cũng như thái tử Chiêu Minh rất mến mộ đạo Phật đă cho dựng nhiều chùa và trọng đăi sư tăng. Riêng thái tử c̣n là người mê thích văn chương từng biên soạn tập “Văn tuyển” của văn học Trung Hoa thời bấy giờ.
臺基  đài cơ: nền của đài (đài là một công tŕnh ghi nhận, đánh dấu kỷ niệm một việc nào đó).
遺經  di kinh: sách kinh c̣n sót. Kinh trong đạo Phật là những lời dạy, những khóa giảng của Phật Thích Ca được các đệ tử ghi lại. Đây chỉ là những lời bàn luận về đạo Phật của thái tử Chiêu Minh là người chưa thực sự giác ngộ lẽ đạo.
紛紛  phân phân: chẻ ra, phân tích không được hệ thống; tŕnh bày rối rắm không rơ ràng.
câu 9, câu 11:  lấy ư từ “Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Tâm Kinh”: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc…”. Câu văn này thể hiện tinh thần phá chấp sự lệ thuộc vào kinh điển theo tinh thần thiền gia. Riêng thái tử vẫn c̣n bàn loanh quanh về đạo Phật mà không quán ngộ về bản chất “Không  HH” (tánh không) của sự vật, của lẽ đạo trong ư chí tận cùng của tâm thiền. Tinh thần “Kiến tính thành Phật” được khởi đầu từ Bồ Đề Đạt Ma (khoảng 520 sau TL) với thông điệp: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” (Không lập văn tự, truyền riêng ngoài những lời dạy của đức Phật, chỉ thẳng tâm người, thấy rơ Tánh để thành Phật). Chắc chắn Nguyễn Du đă t́m hiểu tinh thần thiền của Bồ Đề Đạt Ma, người đă đem một luồng gió mới trong việc tu tập và làm sáng rơ yếu lư cốt lơi của Phật pháp. Đồng thời, ông đă thấy ngay sự sai trái trong cách hiểu đạo Phật của cha con Lương Vũ Đế.
言語科  ngôn ngữ khoa: khoa ăn nói, dùng lời ăn tiếng nói để diễn đạt.
thục: ai bảo, ai nói, chỉ vào sự việc.
金剛法華 Kim Cang (Kim Cương), Pháp Hoa: đó là hai kinh văn căn bản của Phật giáo Đại thừa Trung Hoa. Với thiền sư Thần Tú chủ trương “tiệm ngộ” (tu tập để dần dần thấy lẽ đạo cao cả) việc đọc kinh, niệm Phật và tu tŕ để thân và tâm được chùi quét sẽ sáng như gương (Thân thị bồ đề thụ, tâm như minh kính đài, thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai_Kệ của Thần Tú). C̣n Huệ Năng, đồng môn của Thần Tú, từ áo nghĩa sâu xa của “Kinh Kim Cang”, thiền sư đă quan niệm tu thiền phải “đốn ngộ” (thấy ngay diệu pháp của đạo). Với bài kệ: “Bồ đề bổn vô thụ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà sử nhạ trần ai” phủ nhận bằng biện chứng tánh không cho thấy rơ diệu pháp của đạo Phật ở “tánh không”. Nguyễn Du, người từng đọc kinh Kim Cương hơn một ngàn lần (câu 29), chắc chắn đă thấy và tỏ ngộ yếu lư của đạo Phật, của chữ tâm thông qua kinh này.
  ma: âm trong chữ Phạn là Ma La là những chướng ngại, sự phá hoại, sự cản trở tai hại trong quá tŕnh tu và chứng trong đạo Phật.
  dũng: mọc ra, vọt lên, nhú lên.
câu 18, 19, 20: tướng của nhà Đông Ngụy tên là Hầu Cảnh sau này hàng phục triều Lương, rồi lại phản nhà Lương cưỡi con ngựa trắng đem quân vượt Trường Giang đánh tan tác triều đ́nh Lương Vũ Đế. Nhà Đông Ngụy từng cảnh báo cho nhà Lương khi Hầu Cảnh phản bội theo về: “Sợ nước Sở sẽ mất vượn, họa sẽ lây lan cây rừng, cửa thành thiêu cháy, họa lây đến cá dưới ao”.
câu 21 và 22: hai câu này cũng cho thấy Nguyễn Du nắm rơ tinh thần thiền của Đạt Ma Sư Tổ và nhất là của thiền sư Huệ Năng thuộc thiền phái Trúc Lâm luôn đề cao sự “đốn ngộ” (thấy rơ ngay diệu pháp). Việc đọc chính kinh của Phật cả vạn lần mà không tỏ ngộ cũng sẽ vô ích huống hồ những kinh văn luận bàn về đạo.
聒耳 quát nhĩ: om x̣m, rát tai.
liễu:  hiểu biết tường tận, xong việc…
câu 27 và 28: xem CT bên trên (mục Kim Cương, Pháp Hoa)
奧旨 áo chỉ: những điều uyên áo, sâu xa tận bên trong kinh điển.
tài tri (câu 32): mới biết rằng. Trong câu này cho ta thấy rơ Nguyễn Du đă tỏ ngộ diệu lư của đạo Phật: “Mới biết là kinh không chữ mới là kinh đích thực (chân kinh)”. Đó là tinh thần “Bất lập văn tự” của Đạt Ma truyền chỉ phá chấp sự lệ thuộc vào văn tự, kinh điển. Và khi thấy được áo nghĩa của chữ VÔ tức cũng thấy được “tánh không” là nghĩa cốt tủy của đạo Phật.
 

 

 

 

Bài 107:

 

HOÀNG MAI ĐẠO TRUNG

    黃梅道中

 

Ngô sơn hành dĩ biến,        吳山行已遍
Sở sơn lai cánh đa.             楚山來更多
Đáo đắc thanh sơn tận,       
到得青山盡
Kỳ như bạch phát hà?            
其如白髮何
Hành, Nhạc tuyết sơ tễ,         
衡岳雪初霽
Động Đ́nh xuân thủy ba.      
洞庭春

Kế tŕnh tại tam nguyệt,        
計程在三月
Do cập tường vi hoa.
             猶及薔薇花
 

 

 

TẠM CHUYỀN LỤC BÁT:

 

ĐƯỜNG ĐI HOÀNG MAI

 

Núi Ngô chốn chốn đă đi,

Núi non nước Sở nhiều ǵ đầy nơi!

Non xanh đến hết cả rồi,

Mái đầu bạc trắng tơi bời sao đây?!

Tuyết ngừng đất Nhạc, Hành này,

Động Đ́nh xuân mới sóng vầy nước va.

Đường đi ba tháng tính ra,

Tường vi kịp đă thấy hoa rỡ ràng!

 

DỊCH NGHỈA:

 

Đi khắp núi non nước Ngô rồi đến nước Sở, núi lạnh càng nhiều hơn. Đi đến được hết những ngọn núi xanh th́ đầu đă bạc trắng làm sao đây? Ở Hành Dương, Nhạc Dương, tuyết mới thôi rơi. Ở hồ Động Đ́nh, sóng đầu mùa xuân mới đă gợn lên. Tính toán đường đi vào khoàng ba tháng, hoa tường vi đă rộ nở c̣n kịp thấy.

 

CHÚ THÍCH:

 

Đây là bài thơ Nguyễn Du làm trên đường về nước nhà cách khoảng ba tháng. Ngày 29 tháng 3 năm Giáp Tuất (1814) ông mới về đến ải Nam Quan.

                          

 

吳山  Ngô sơn: núi thuộc nước Ngô xưa bao gồm An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam trong đó Hoàng Mai là một dăy núi nằm ở huyện Hành Dương, tỉnh Hồ Bắc.
  Hành:  tức là huyện Hành Dương ở Hồ Nam.
  Nhạc: tức là Nhạc Dương ở Hồ Bắc.
洞庭  Động Đ́nh: tức hồ Động Đ́nh một hồ lớn nằm giữa vùng Hồ Bắc, Nhạc Dương, Tương Âm là một danh thắng của Trung Hoa nay thuộc Hồ Nam.
xuân thủy: mùa xuân mới bắt đầu.
初霽  sơ tễ: trời mưa mới tạnh, tuyết mới ngừng rơi.
 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 108-109

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com