trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 07:

 

 

TRẤN NAM QUAN

 

    鎮南關

 

 

Lư Trần cựu sự yểu nan tầm,                   李陳舊事杳難尋
Tam bách niên lai trực đáo câm.            
三百年來直到今
Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện,        
兩國平分孤壘面
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.          
一關雄鎮萬山心
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,            
地偏每為傅聞誤
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.          
天近纔知降澤深
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,           
帝闕回頭碧雲表
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.
               鈞韶耳畔有餘音

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

TRẤN NAM QUAN

 

Khó t́m chuyện cũ Lư Trần,

Ba trăm năm đă thẳng lần đến nay.

Chia đều hai nước lũy này,

Vạn non ải giữa trấn đây oai hùng.

Lệnh truyền sai lệch mỗi vùng,

Mới hay ban xuống trời gần móc mưa.

Quay đầu mây biếc cửa vua,

Nhạc thiều ḥa tiếng vẳng lùa bên tai.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Chuyện đời nhà Lư, nhà Trần xa xôi xưa cũ khó t́m được. Đă ba trăm năm thẳng cho đến ngày nay (cửa ải đă có ở đây rồi)! Bức tường thành lẻ loi chia đều mặt nh́n của hai nước; một cửa oai hùng nằm ở giữa trấn giữ muôn ngàn núi non. Mỗi vùng đất đă có những lời đồn đoán sai lệch ở chốn biên giới xa xôi. Gần với trời mới biết ơn trên ban xuống sâu dày. Quay đầu nh́n về cung vua đă ở ngoài tầng mây biếc, bên tai vẫn c̣n vang vọng tiếng nhạc thiều.

 

CHÚ THÍCH:

 

Đây là một bài thơ đă cho thấy ải Nam Quan là một di tích lịch sử chia đều vùng đất hai nước Việt Nam và Trung Hoa đă có từ thuở xa xưa thời nhà Lư, nhà Trần và c̣n đến thời Nguyễn Du được cử làm Chánh Sứ đi tuế cống nhà Thanh (1813) theo lệnh của vua Gia Long. Hiệp ước kư năm 1959, ải Nam Quan không c̣n nữa sau cuộc chiến tranh với quân đội Bắc Kinh (1979). Lănh thổ từ mấy ngàn năm nay giờ đă bị xâm lấn và cái họa từ phương bắc đang cận kề.

          

 

兩國平分 lưỡng quốc b́nh phân:  phân chia đều hai nước. Có nghĩa là ải Nam Quan là mốc giới chung của hai nước Việt Trung từ lâu đời.
地偏 địa thiên: vùng đất biên giới xa xôi một nước (thiên: nơi xa xôi ở biên giới, lệch không thẳng, khoe khoang).
  ngộ: mê hoặc, sai lệch, lầm lẫn.
  trạch: chỗ nước đọng lại, ơn mưa móc, ân huệ, sáng sủa, tươi tắn.
  biểu: tỏ rơ ư ḿnh, ở bên ngoài, tiêu biểu.
鈞韶  quân thiều: nhạc lễ chỉ sự thái ḥa tốt đẹp thường được diễn trong triều đ́nh khi có lễ lạc.
yểu: tối tăm, sâu xa, vắng lặng, xa mờ.
     

 

 

 

 

 

Bài 08:

 

NAM QUAN ĐẠO TRUNG

 

   南關道中

 

 

Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,          玉書捧下五雲端
Vạn lư đan xa độ Hán quan.                  
萬里單車渡漢關
Nhất lộ giai lai duy bạch phát,             
一路偕來愯白髮
Nhị tuần sở kiến đăn thanh san.            
二旬斫見但青山
Quân ân tự hải hào vô báo,                   
君恩似海毫無報
Xuân vũ như cao cốt tự hàn.                  
春雨如膏骨自寒
Vượng đạo đăng b́nh hưu vấn tấn,        
王道蕩平休問訊
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.
  明江北上是長安

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐƯỜNG ĐI TỪ NAM QUAN

 

Mây năm sắc xuống chiếu ban,

Một xe ải Hán dặm ngàn vượt qua.

Đường đi chỉ tóc trắng pha,

Hai mươi ngày thấy núi là xanh tươi.

Ơn vua chẳng báo nhỏ nhoi,

Mưa xuân trơn trợt, lạnh trời thấu xương.

Đường bằng rộng khỏi hỏi đường,

Minh Giang hướng bắc là Trường An đây!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Chiếu thư vua ban từ trên tầng mây năm màu đưa xuống. Chiếc xe lẻ loi vượt qua cửa ải nhà Hán đi muôn dặm. Một con đường đi, cùng với mái tóc pha trắng. Cả hai mươi ngày chỉ thấy núi non màu xanh. Ơn vua như biển không báo đáp chút nhỏ nhoi nào. Mưa xuân (làm đường đi) trơn như mỡ và sự lạnh lẽo thấm đẫm tận xương. Con đường đi giờ bằng phẳng và rộng răi nên thôi hỏi thăm đường. Hướng lên phía bắc Minh Giang đó là Trường An.

 

 

CHÚ THÍCH:

 

 

玉書  ngọc thư: chiếu thư truyền lệnh của vua.
   đoan: đầu mối, nguyên nhân, ngay chính, thẳng thắng.
五雲端  ngũ vân đoan: mây năm sắc chỉ nơi vua thiết triều là đầu mối ban ra lệnh.
漢關 Hán quan: cửa ải nhà Hán nh́n hướng về phía bắc từ giửa ải Nam Quan; phía nam gọi là cửa ải “Nam quan” (xem CT bài 7). Thời Gia Long gọi là Trấn Nam quan, sau này đổi lại là Mục Nam Quan rồi khi bang giao với Bắc Kinh gọi là Hữu Nghị quan.
  tuần: mười ngày gọi là một tuần, mười năm cũng gọi là tuần (tuổi tứ tuần, lục tuần…), đi tuần, khắp nơi.
đăn: chỉ, ngưng, trống rỗng, vô ích.
  hào: nhỏ nhoi, ít ỏi, bút làm bằng long dài và nhọn.
cao: mỡ động vật, trơn trợt.
  tấn: thăm hỏi, hỏi han, báo cho biết, hỏi tội, mau lẹ.
明江 Minh Giang: bắt nguồn từ núi Phân Mao ở Quảng Đông, nhánh chảy phía nam ra vịnh Bắc Bộ làm ranh giới Việt Trung
長安  Trường An: thời nhà Đường (T.H.) đây là nơi đóng đô của triều đ́nh. Đến đời nhà Thanh khi Nguyễn Du đi sứ, kinh đô được đặt ở Bắc Kinh. Tuy nhiên từ thời Đường về sau chữ “Trường An” thường được các văn nhân Trung Hoa, Việt Nam… dùng để chỉ nơi kinh đô có triều đ́nh.
     

  

 

          
 


 

 

 

 

 

Xem Bài số 09 - 10

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com