trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

 

PHẦN BA 

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH

VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT QUA

NGUYỄN DU VÀ TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

 

Trong những phần trên, ta đă lần lượt khảo sát về tiểu sử Nguyễn Du, về ảnh hưởng đạo Phật trong các tác phẩm của tiên sinh, về nguồn gốc của Truyện Kiều, về vị trí tư tưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh đối chiếu với tư tưởng Nho gia và Đạo gia. Qua những điều nhận xét như thế, ta thấy đạo Phật ít nhiều đă đóng góp và chiếm một vai tṛ đặc biệt trong việc xây dựng và h́nh thành tư tưởng Nguyễn Du. Vậy tư tưởng Nguyễn Du là ǵ, liên hệ thế nào đối với Đạo Phật và có những ảnh hưởng nào trong Đoạn Trường Tân Thanh? Những vấn đề đó sẽ được nhận định lại một lần nữa hầu có một cái nh́n chung ở những phần sau.

 

CHƯƠNG II

 

TƯ TƯỞNG NGUYỄN DU VÀ

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

 

  

 

Mục 1 

CHỮ TÂM VÀ SỰ THỰC CHỨNG
 

Có thể nói rằng, những chất liệu cần thiết để Nguyễn Du tạo nên những “tiếng mới về nỗi đoạn trường”, đă được h́nh  thành ngay trong những quan niệm của tiên sinh qua những  bài thơ chữ Hán. Ít nhiều, những quan niệm về thân phận làm  người, vận, mệnh, v.v...và đặc biệt là những tư tưởng đạo Phật  được mang vào Truyện Kiều không những là phương tiện để tiên sinh tŕnh bày quan niệm của ḿnh trước cuộc đời mà c̣n cho thấy sự “thực chứng” của Tố Như từ câu chuyện nàng Kiều nữa. Thực vậy, toàn bộ Đoạn Trường Tân Thanh được xây dựng khởi đi bằng tiền đề “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” để dần dần tiến đến ngọn nguồn của vấn đề này, chính là chữ Tâm. Nói khác đi, chữ Tâm là nguyên nhân, là cỗi nguồn của hạnh phúc, khổ đau, sum họp và chia phôi, mê và ngộ bao quanh nhân vật có tên là Thúy Kiều, c̣n tài mệnh chẳng qua là hậu quả của cái tâm ấy mà thôi.

 

Trước hết, cái quan niệm “tài mệnh tương đố” được dùng làm tiền đề khơi mào câu chuyện của nhân vật mang tên Thúy Kiều cũng chính là mối băn khoăn của tiên sinh khi nh́n lại thân phận của ḿnh: 

 

“Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân

Bản vô văn tự năng tăng mệnh

Hà sự kiền khôn thác đố nhân?”

(Tự Thán II)  

            聰明穿鑿損天真

            本無文字能增命

            何事乾坤錯妒人

            (自嘆 二)

 

(Trí thông minh xuyên tạc hại tính trời,

 văn tự vốn không hay ghen ghét số mệnh,

tại sao trời đất lại đố kỵ lầm người?)  

Chuyển ư qua lục bát:  

… Thông minh hại mất tính trời chẳng thôi.

Văn chương nào ghét mệnh đời,

Sao trời đất lại ghen người lầm ai!

(Than Thân, II)

Trong Đoạn Trường Tân Thanh, nàng Kiều đă được mô tả là người vừa có sự thông minh, vừa là người có chữ nghĩa tài năng: 

“Thông minh vốn sẵn tính trời,   (c. 29)

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.”  

Và chính sự thông minh đó sẽ là đầu mối cho cuộc phong trần của nàng về sau:   

“Anh hoa phát tiết ra ngoài,    (c. 415)

Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa.”   

 

Vả lại “tính trời” là cái tánh tự nhiên nơi mỗi người, nên Tố Như hoặc nàng Kiều cũng không thể nào gột bỏ được bản chất của ḿnh hoặc thay đổi được cái tính sẵn có ấy. Mỗi người sinh ra đều mang một bản chất của ḿnh một cái mệnh, một cái nghiệp như một thứ chủng tử tiềm tàng bên trong. Tính cũng là một thứ chủng tử ẩn tàng bên trong mỗi cá thể như là Nghiệp. Nói khác hơn, rốt cùng Tính và Nghiệp (hoặc Mệnh) cũng chỉ là một, nó là cái Thể thực hữu. Ra khỏi cái Thể là Dụng, là h́nh tướng biểu lộ ra bên ngoài. Do đó, Tố Như tiên sinh đă nói về ḿnh khi nhận ra được phần nào cái nguyên lư chi phối cuộc đời gian truân là do bởi cái Tính và cái Tướng tác động:     

Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn 

Mệnh đẵng hồng mao bất tự tri  

Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng

(Tự Thán I)

           

性成鶴脛何容斷

            命等鴻毛不自知

            天地與人屯骨相

                                                (自嘆 一)

(Chân hạc tính vốn dài, cắt ngắn sao được,

mệnh trời nhẹ như lông hồng mà ḿnh không tự biết.

Trời đất phú cho người cái cốt tướng gian truân).

Tạm chuyển lục bát:  

… Cắt sao chân hạc - tính người?   

Lông hồng tựa mệnh ta rồi biết chăng?

Đất trời dáng vóc khó khăn ...  

Một cách tương tự, tiên sinh đă phác họa một nàng Kiều cũng nhận ra được cái tính của ḿnh khi đánh đàn cho Kim Trọng nghe. Dĩ nhiên, nhận ra được cái tính, không có nghĩa là thấu rơ được căn để của mệnh hay là nghiệp, v́ “mệnh trời nhẹ như lông hồng mà ḿnh không tự biết”. Biết được tức là thấy rơ được cội nguồn đă gây ra cuộc đời “bạc mệnh” của chính ḿnh, của nàng Kiều:

 

“Nghĩ ḿnh phận mỏng cánh chuồn     (c. 41 1 )

Khuôn xanh có biết vuông tṛn mà hay?”

 

Hoặc:

 

“Trông chừng khói ngất song thưa,        (c. 571)

Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.”

 

Kiều chỉ “trông chừng”, nhận ra con đường phong trần mờ nhạt ẩn khuất đâu đó mà ḿnh sẽ dấn bước, v́ nàng là người thông minh và dùng cái thông minh này nh́n vào chính cái “tính trời” để suy ra số kiếp. Hơn thế nữa, nàng nào có biết được “vuông tṛn mà hay”, ngoại trừ tiếng đàn bạc mệnh và những giấc chiêm bao thấy Đạm Tiên hoặc tính t́nh ḿnh cho thấy mà thôi.

 

Trong mười lăm năm luân lạc, nàng Kiều của Nguyễn Du đă nhiều lần thức tỉnh để nhận ra dần dần chính ḿnh. Sau những cuộc truy hoan hoặc trong những lúc bị đày đọa bởi kiếp phong trần, Kiều đă thấy được cả một số phần đang đè nặng lên cuộc đời ḿnh và ở giữa đó, nàng như một kẻ độc hành trơ trọi để t́m lại h́nh bóng đích thực của ḿnh. Trí thông minh của nàng tuy là “tính trời”, nhưng cũng chỉ giúp nàng thức tỉnh thấy được ḿnh trong thế giới có phân biệt của tánh (Dụng). Nó cũng là một thứ tâm, nhưng là vọng tâm, nghĩa là vẫn chưa thấu triệt được bản thể v́ cái tâm đích thực tức là chân tính của nàng phải ở tŕnh độ vô phân biệt:

 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,            (c. 1233)

Giật ḿnh ḿnh lại thương ḿnh xót xa.”

 

Thêm vào đó, chuyển động của vọng tâm sinh ra vô minh, phiền năo, nhưng cũng từ phiền năo vô minh đó, nàng đă phăng lần đến cơi ḷng của ḿnh dù chưa đạt đến tận cội nguồn: 

 

“Vui là vui gượng kẻo là,                 (c. 1247)

Ai tri âm đó mặn mà với ai.  

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.

Nỗi ḷng đày đọa xa gần, 

Chằng ṿ mà rối chẳng dần mà đau.”

 

Trên bước đường phong trần, h́nh ảnh của một Thúy Kiều ngồi đối bóng sụt sùi “nghĩ thân mà ngậm ngùi cho thân” (c. 1190) cũng là h́nh ảnh của một Nguyễn Du từng thao thức đêm trường để nh́n lại cuộc đời của ḿnh hầu t́m ra một lối thoát khả dĩ dung ḥa được những mối mâu thuẫn bắt gặp trên đường t́m kiếm nơi an trụ đích thực của ḷng ḿnh:

 

Trúc, thạch đa tàm phụ nhĩ minh.

Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh,

Măn sàn trệ vũ bất kham thinh.

(Tống nhân) [1]  

 

竹石多慚負爾盟

惆悵深宵孤對影

滿床滯雨不堪聽

(送人)

 

Tạm chuyển lục bát:

 

... Thẹn cùng trúc, đá phụ lời thề kia,

Buồn dâng đối bóng đêm khuya,

Nằm sao chịu nổi, nghe mưa dầm dề.

(Tiễn bạn)

 

Mặt khác, khởi đi từ nhận thức:

 

“Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao”     (c. 494)

 

Kiều đă thấy được một cách mơ hồ về lẽ vô thường (tẻ vui), chẳng qua là do tính t́nh bẩm sinh mà ra. Và nàng đă bước thêm một bước dài nữa sau nhiều chặng đoạn trường, sau nhiều lần chống chỏi với số mệnh khắc nghiệt cũng như nghĩ ngợi thương xót số phận của ḿnh để đi đến chỗ nhận thức lư vô thường ở một cấp bậc cao hơn:

 

“Tẻ vui cũng một kiếp người”        (c. 1193)

 

Thấy được cả một mệnh kiếp chi phối đời ḿnh không phải để chối từ nó một cách dễ dàng, v́ “đến phong trần, cũng phong trần như ai” (c. 1192). Hơn ai hết, nàng đă ư thức rơ ràng ít nhiều “phận bèo” của ḿnh để chấp nhận nó; chấp nhận để từ đó t́m cách vượt thoát khỏi chốn phong trần, không rời khỏi nó nhưng thấu triệt nguyên lư bên trên chi phối đời nàng. Bởi thế, Nguyễn Du tiên sinh đă để Kiều ở đây khẳng quyết:

 

“Đục trong thân vẫn là thân”         (c. 1423) 

 

Dù tốt đẹp, dù xấu xa, dù đục hay trong, Kiều vẫn là Kiều. Ai hay rằng nhờ đục mới ra trong, nhờ thấy được chỗ mê mờ của ḿnh, nàng mới dễ dàng tiến bước trên con đường t́m lại h́nh bóng cũ thật sự của ḿnh. Ngoài sóng không có nước, ngoài nước không có sóng. Nhận ra được thân là nơi tạo tác của hạnh phúc cũng như khổ đau, của thanh tịnh và vẩn đục. Phải chăng đó cũng là thời kỳ mà Nguyễn Du tiên sinh chứng đắc được cái tâm của ḿnh để rồi quan niệm rằng thiền là sự an trụ nơi cái tâm của ḿnh và ngược lại cái tâm an trụ nơi thiền. Tuy nhiên ở cấp độ này như là “cỡi trâu về nhà là cỡi tâm về chỗ ban sơ” [2], nghĩa là trâu và người không rời nhau:

 

“Thử tâm thường định bất ly thiền”

                     (Đề Nhị Thanh Động)

 

  此 心 常 定 不 離 禪                     

                                            (題二青洞)

 

Thấy được trâu (tâm) nhưng c̣n phải hàng phục trâu để giắt trâu về nhà. Kiều càng bị đày đọa bao nhiêu th́ khả năng chế phục vọng tâm của nàng càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Đến một giai đoạn nào đó, trâu và người cần phải rời nhau. Và giai đoạn rời nhau đánh dấu một bước đi vững chăi hơn:

 

 “Nhớ lời thần mộng rơ ràng,          (c. 2621)

   Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây”.

 

“Thần mộng” do Đạm Tiên, biểu tượng cho những chủng tử của thức tâm nhắc nhở nàng Kiều là đến giai đoạn có thể buông xả, ĺa bỏ tất cả mọi vô minh, phiền năo khổ đau của một cái tâm lưu vong. Đó là giai đoạn chín mùi của tâm thức, của nghiệp quả đă chấm dứt. Nh́n lại cuộc đời Thúy Kiều cũng thế, h́nh bóng chủng tử Đạm Tiên luôn luôn theo sát cuộc đời nàng. Ta không nên hiểu Đạm Tiên theo lối hiểu thông thường khi cho rằng đây là một “bóng ma” hay một oan hồn đeo đuổi đời Kiều. Sự kiện “ma đưa lối quỉ đưa đường” để Kiều t́m “chốn đoạn trường mà đi” (câu 2665 và 2666), chẳng qua chỉ là các hiện tượng của thức tâm mà ra. Mượn quan niệm của duy thức học, có lẽ ta sẽ dễ dàng nhận rơ tâm thức của Thúy Kiều ở một giai đoạn sinh tử nhiều hơn. Vay mượn một quan niệm để xét về tư tưởng một nhà thơ như Nguyễn Du không có nghĩa là gán ghép cho tiên sinh những ǵ vay mượn ấy. Ta nên xem đó như là một thứ phương tiện để soi sáng phần nào tư tưởng của tiên sinh mà thôi. Cho nên, có thể xem “thần mộng” như là một thứ chủng tử dù muốn dù không đă có mặt trong cuộc đời Kiều, v́ rằng: “tất cả nghiệp nhân đều ở trong A Lại Gia, ngầm chuyển tác động trong A Lại Gia. Khi nào các nghiệp nhân ấy chín tới một giai đoạn phát  hiện mới sẽ được bắt đầu và cây nến sẽ bật sáng” [3]. Bởi vậy, giai đoạn nhảy xuống sông Tiền Đường cũng là giai đoạn tối cần trên bước đường t́m cầu cái chân tâm của ḿnh. Chỉ trong bước đường cùng của sinh tử, Kiều mới có thể vượt thoát mọi ràng buộc của bao nhiêu khổ đau nơi chốn trầm luân mà Kiều bị đày ải vào. Và cái mầm mống khổ đau ấy được nẩy sinh ngay chính “thức tâm” mà nàng biểu hiện qua tiếng đàn bạc mệnh:

 

“Khúc nhà tay lựa nên chương        (c. 33)

Một thiên bạc mệnh lại càng năo nhân”

 

Ĺa bỏ được những thức tâm huyễn hoặc tai hại, phiền năo đó bằng cái chết để được cứu sống nơi Tiền Đường, xếp đặt đơn giản theo t́nh tiết câu chuyện nhưng hàm ngụ một ư nghĩa sâu xa. Phải chăng nhờ cốt truyện của Thanh Tâm Tài tử, nhờ vào cuộc đời ba ch́m bảy nổi và nhờ vào cái chết của Kiều có điểm tương hợp với tiến tŕnh tư tưởng của ḿnh mà Tố Như đă soạn ra Đoạn trường Tân Thanh?

Bạch Ẩn Huệ Hạc, cha đẻ của phái Thiền Lâm Tế Nhật Bần cũng công nhận sự cần yếu của một giai đoạn sinh tử của tâm thức khi ông viết:

 

“Nếu các ngươi muốn đạt được đạo lư thanh tịnh vô ngă , th́ hăy cứ một lần buông tay rơi trên vực thẳm, rồi các người sẽ bừng tỉnh chỗi dậy trở lại và thành tựu bốn đức: thường, lạc, ngă, tịnh” [4]

 

Sau cái chết mang ư nghĩa như thế, nàng Kiều mới sống lại với một tâm thức mở rộng để sum họp b́nh thường với Kim Trọng và gia đ́nh với một cơi ḷng an vui và một tâm hồn thanh tịnh: 

 

“Xưa sao sầu thảm giờ sao vui vầy?”  (c. 3208)

 

Câu hỏi đầy vẻ ngạc nhiên đó của Kim Trọng qua tiếng đàn “đầm ấm”, “dương ḥa”, vô phân biệt đă là một điều xác tín tiến tŕnh tâm thức của Thúy Kiều mà Tố Như đă phác họa nên rất phù hợp với tiến tŕnh tư tưởng của tiên sinh như đă đề cập ở mục trên. Ngoài ra, cơi ḷng thanh tịnh của Kiều nay đă đến giai đoạn của một tâm thức đă lắng đọng, đă trở về nguồn cội (Tẻ vui bởi tại ḷng này - c.3209) luôn luôn trong sáng. Một vẻ trong sáng khác hẳn những năm xưa cũ gia đ́nh êm ấm với một nàng Kiều tâm thức chưa được khai mở như lời Kim Trọng chứng nhận tâm thức đời Kiều đă nhận ra:

 

“Trời c̣n để có hôm nay,       (c. 3121)   

Tan sương đầu ngơ vén mây giữa trời.

Hoa tàn rồi lại thêm tươi,

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”.

 

Giữa bao sự khổ đau dày ṿ của chốn phong trần, tâm thức của Kiều vẫn c̣n nguyên vẹn như xưa. Song với Kiều, nàng chỉ nói về ḿnh một cách khiêm nhượng và nàng có quyền nói như thế v́ ḷng nàng giờ đây “đă rửa lâng lâng sạch rồi” (c.2688):

 

“Chữ trinh c̣n một chút này,    (c. 3161)

Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan”

 

Một lần nữa, chàng Kim lại xác nhận ư nghĩa của sự trinh nguyên của một tâm thức lắng đọng đó:

 

Gương trong chẳng chút bụi trần,  (c. 3173)

Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm”.

 

Cũng như khi Tố Như đến Phân Kinh Phật Đài với một mối ưu tư tột cùng của tâm thức để rồi nhận ra “kinh không có chữ mới là chân kinh” (Xem phần dẫn nhập), ư nghĩa của “chữ trinh” mà Kiều tỏ lộ không c̣n là một chữ trinh theo nghĩa tầm thường nhưng là tâm thái của một kẻ đă an trụ vào chân tâm trinh nguyên của ḿnh. Nếu hiểu theo một nghĩa tầm thường, hóa ra Đoạn Trường Tân Thanh chỉ là một câu chuyện “phong t́nh” như bao chuyện “phong t́nh” khác. Vả lại khi chứng đắc “kinh không có chữ mới là chân kinh”, chính là lúc Tố Như với một tâm thức buông xả không c̣n chấp trước vào kinh điển đă thấy lại được “bản lai diện mục” của ḿnh và tư tưởng ấy đă được tiên sinh đem vào Đoạn Trường Tân Thanh khi để cho nàng Kiều phát biểu:

 

“Từ rày khép cửa pḥng thu       (c. 3107)

Chẳng tu th́ cũng như tu mới là”

 

Nói được như thế, tức là tâm thức Kiều đă thực sự đạt đến yếu tính của đạo Phật và của Thiền tông trên quan điểm vô phân biệt trí. Giữa đời sống vợ chồng, nàng giữ vẹn được ḷng trinh của ḿnh v́ rằng: “lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”. Sống đời sống vợ chồng, tức là “chẳng tu” nhưng chỉ là t́nh cảm vợ chồng của hai kẻ tri âm, đă “đem t́nh cảm sắt đổi ra cầm kỳ” , nên vẫn thuận tiện cho việc tu tâm của ḿnh. Giờ đây Thúy Kiều nói rằng: “Sự đời đă tắt lửa ḷng” để vẫn sống b́nh thường với người t́nh tri âm cũ song vẫn giữ được chữ trinh của ḿnh. Trinh là sự trong trắng, là sự giải thoát và vượt lên những sự tầm thường để có được sự b́nh thường của đạo. Đức Phật đă dạy các đệ tử:

 

Giáo pháp của ta:  

“Niệm” mà không trụ chấp nơi “niệm” , mới thật là “niệm” .

“Làm” mà không trụ chấp nơi “làm” , mới thật là “làm” .

“Nói” mà không trụ chấp nơi “nói” , mới thật là “nói” .

“Tu” mà không trụ chấp nơi “tu” , mới thật là “tu”.

“Chứng” mà không trụ chấp nơi “chứng” , mới thật là “chứng”.

      (Kinh Tứ Thập Nhị Chương) [5]

 

Điều này rất phù hợp với giai đoạn kết thúc của tâm thức nàng Kiều: “Chẳng tu th́ cũng như tu mới là” . Đạt đến giai đoạn đó, quả thật tâm thức của Kiều đă thực chứng được đâu là chân tâm của một kiếp người cũng như khi Tố Như bừng tỉnh khỏi cơn mơ để thấy rằng: “Kinh không có chữ mới là chân

 

kinh” (Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài - Bắc Hành Tạp Lục). Cái chết của Thúy Kiều nơi sông Tiền Đường, hay cái Thấy của Tố Như dưới chân đài mang tên “Phân kinh” cũng chỉ là một ư nghĩa duy nhất để mong cầu được hạnh phúc và an lạc. Và cũng không thể nào đem kinh ra để phân chia, sắp xếp, để t́m thấy áo nghĩa nhà Phật hoặc cuộc đời cũng như không thể nào phân tích Vẻ Đẹp của vầng trăng “hơn mười rằm xưa” là thế nào được.

 

Thêm vào đó, tư tưởng của Nguyễn Du cũng tỏ lộ sự thực chứng của ḿnh khi để cho nàng Kiều “chứng” mà không trụ chấp nơi chứng. Ngoài tiếng đàn của nàng lên tiếng, Kiều đă im lặng để mặc cơi ḷng ḿnh buông thả theo tiếng tơ đồng. Tiếng đàn “đầm ấm” dương ḥa ấy mang một ư nghĩa thật sâu sắc và cho chúng ta thấy được phần nào tâm thức trong sáng của Kiều. Ca ngợi sự trong sáng đó không phải nàng Kiều, nhưng lại là chàng Kim. Nói khác đi, Kiều đă đạt đến giai đoạn an nhiên tự tại mà mỗi tiếng đàn, mỗi lời nói đều là những bằng chứng tỏ rơ sự thông ngộ của Kiều nhưng không có kẻ “chứng quả”. Chứng quả. mà không chấp ḿnh chứng quả mới thật là chứng quả. Tinh thần Bát Nhă ấy hơn đâu hết thể hiện trọn vẹn ư vị qua tiếng đàn “trong”, “ấm”, “lọt tai” và thông suốt của Kiều. Hơn thế nữa, cái tâm chứng quả ấy xứng danh là “chân tâm”chứ không c̣n là “vọng tâm”, v́ nó không c̣n phân biệt đâu là “hồ điệp” đâu là “Trang sinh”, đâu là “Thục đế” đâu là “ḿnh đỗ quyên”: 

 

“Khúc đâu đầm ấm dương ḥa,     (c. 3199)

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.

Khúc đâu êm ái xuân t́nh,

Ấy hồn Thục đế hay ḿnh đỗ quyên”.

 

Nếu tượng trưng “Trang sinh”, “Thục đế” là tâm và “hồ điệp”, “ḿnh đỗ quyên” là thức, hoặc sóng và nước, băng với nước, thể dụng th́ ngoài tâm không có thức, ngoài sóng   không có nước, ngoài thể không có dụng và ngược lại. Cái tâm vô phân biệt mới là chân tâm và nếu không có sự khổ ải đày đọa đời Kiều th́ không bao giờ có được một nàng Kiều với tâm thức rộng mở như thế. Nhưng khi Kiều nói:

 

“… V́ chút nghề chơi,         (c. 3211)

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”

 

Nàng đă nh́n lại đoạn đường đi qua không phải với sự phân biệt, song với một chứng nghiệm sự thật ở chính bản thân nàng. Chứng nghiệm được sự thật tức là thấu rơ được chân tâm. Thành ra, nh́n một cách rộng răi hơn, giữa người đánh đàn và tiếng đàn giờ đây đă là một, phi nhất phi nhị khác hẳn với những năm xưa cũ khi nàng vẫn c̣n nhận ra được tiếng đàn do bởi cái tính của ḿnh: "Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao". Cả hai đă ḥa điệu trong một bản đàn của cơi ḷng hay cái tâm b́nh đẳng vô tâm của đạo. Và đạo tự nó viên thành. Gọi là chứng nghiệm chứng đắc để nói về cái tâm an trụ của Kiều cũng chỉ là một cách gọi v́ đạo chẳng tu mà cũng chẳng chứng. Nhưng không phải là Kiều không tu và không chứng. Bao nhiêu năm luân lạc giữa chốn phong trần đă mài dũa con người của Kiều để chuẩn bị cho một ngày tâm thức mở rộng và việc “tu” của Kiều là ǵ nếu không phải là sự từng trải mười lăm năm đoạn trường? Đời của Kiều chỉ mang ư nghĩa đích thực nhờ vào kinh nghiệm của những năm tháng đắng cay luân lạc ấy. Gọi là tu cũng được và chẳng tu cũng được. C̣n lại ở đó những kinh nghiệm chồng chất và thiền là ǵ nếu không là mớ kinh nghiệm sống thật đó. Mặt khác, kinh nghiệm mà Kiều thủ đắc cũng không mang vẻ tầm thường và đơn giản chút nào. Sự giao ngộ tâm thức và cuộc sống nếu xét một cách riêng rẽ chỉ là những mảnh vụn rải rác của những suy tư chiếu dội trên sự sống của ḿnh như một sự bắt gặp nửa vời thân phận của ḿnh mà thôi. Dĩ nhiên, Kiều cũng có những lúc bắt gặp bất chợt cả một số kiếp đang bao trùm lấy đời ḿnh, song mỗi lần bắt gặp ấy lại có một ít gai góc của khu rừng vô minh mờ ảo cản trở. Những chủng tử A Lại gia thức (Alayavijnăna) tùy theo nghiệp báo sanh diệt tương tục, tùy theo sự huân tập dần dần xả bỏ những phiền năo, những đau thương, những vọng tưởng, mê tâm để thành tâm thanh tịnh. Cho nên, những sự thức tỉnh của Kiều trước thân phận của ḿnh sẽ được A Lại Gia ghi chép, thu nhặt để tiến dần đến chỗ xả bỏ, chuyển thức phân biệt thành trí bát nhă vô phân biệt; không có kẻ đánh đàn và cũng không có tiếng đàn; cả hai đă là một quyện lấy nhau do bởi tâm thức của Kiều đă vượt thoát mọi phiền trược của kiếp đoạn trường.

 

Thành thử, thiền chính là đời sống, chính là kinh nghiệm nên không có ǵ để gọi là huyền bí hoặc siêu việt. Huyền bí hoặc siêu việt là những danh từ không đáp ứng đúng với thiền v́ rằng “b́nh thường tâm là đạo” như lời thiền sư Nam Tuyền đă trả lời cho Triệu Châu. [6]

 

Ta có thể tạm xem toàn thể kinh nghiệm của Nguyễn Du trong Đoạn trường Tân Thanh như là sự “tra hỏi về huyền nhiệm của cuộc đời”[7]. Trong sự tra hỏi đó, Kiều đă sử dụng tài trí thông minh để suy lư, t́m hiểu số kiếp của ḿnh, song đồng thời nàng vẫn có những trực giác về số kiếp oái oăm đó:

 

“Nỗi niềm tưởng đến mà đau,    (c. l09)

Thấy người nằm đó biết sau thế nào”

 

Hoặc:   

 

“Trông chừng khói ngất song thưa       (c. 571)

Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng”.

 

Và: 

“Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân” (c. 1190)

Hoặc:
 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh        (c. 1234)

Giật ḿnh, ḿnh lại thương ḿnh xót xa.”

 

Cuộc đời Thúy Kiều, nếu xét định rộng răi hơn, đều đưa vào cùng lúc cả hai tư thái trực giác và suy lư đó để tra hỏi về mệnh kiếp của ḿnh. Kinh nghiệm của Kiều hay của thiền đều dựa trên hai nền tảng cốt yếu: 

 

“Ngoài th́ là lư, song trong là t́nh”   (c. 1462)

 

Dùng “lẽ” hay lư trí, Kiều đă cố gắng chiến thắng hoặc vượt khỏi mối dây oan nghiệt buộc chặt thân phận hồng nhan của ḿnh, nhưng nàng cũng dùng trực giác, hay “t́nh” ở đây (qua những giấc mộng hoặc sự giao ngộ với Đạm Tiên để dẫn dắt hành động của ḿnh và đến khi cảm nhận được: “Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây” (câu 2622), Thúy Kiều cũng chỉ thi hành tuân theo sự trực giác của ḿnh qua việc “nhớ lời thần mộng rơ ràng” (câu 2621) mà chủng tử Đạm Tiên ngày nào đă gieo vào óc nàng. Dĩ nhiên, muốn đạt “' t́nh” th́ phải dùng “lẽ”, nhưng ta nên hiểu rằng “lẽ” chỉ là phương tiện hay cái ṿng “ngoài” để giúp ta thấu hiểu được “t́nh” hay cái ṿng “'trong” mà thôi. Nói khác đi, tài trí thông minh của Kiều không hẳn là vô ích trước định nghiệp, song lại có tác dụng đưa nàng tới chỗ nhận thức đến lúc phải buông bỏ cái tài của ḿnh hầu tuân theo “thần mộng” Đạm Tiên nơi sông Tiền Đường để được giải thoát. Thêm vào đó, ta không nên hiểu chữ “t́nh” theo nghĩa thường mà nên hiểu một cách rộng răi, chẳng hạn khi đem áp dụng vào việc giải thích tâm thức chứng đắc của Kiều xuyên qua tiếng đàn vô phân biệt của nàng ở giai đoạn tái hợp. Chỉ trong trạng thái vô phân biệt này, chữ “t́nh”, mới được hiểu rơ đầy đủ ư nghĩa. Lấy “lẽ” để đạt “t́nh” và lấy “t́nh” để thấu rơ “t́nh”; thấu rơ bằng tâm thức vô phân biệt như thế th́ ranh giới của lư trí và trực giác hoặc của “lẽ” và “t́nh” mới được xóa nḥa. Tự bản chất của “lẽ” chính là sự vẩn đục của tri kiến, của vô minh và tự bản chất của đục cũng ngầm chứa sự thanh tịnh bên trong. Nên khi Tố Như viết: “Đục trong thân cũng là thân” th́ tự bản chất của thân đă gồm đủ cả trong lẫn đục, t́nh lẫn ư (câu 1423) Dung ḥa được t́nh và lư, trong và đục vẫn chưa phải là diệt bỏ được hoàn toàn sự đối kháng giữa hai sự kiện đó. Toàn bộ kinh nghiệm của Kiều hoặc của thiền gia đều là những nỗ lực vượt thắng cặp mâu thuẫn song tương sinh đó để chứng được sự huyền nhiệm bằng cái tâm b́nh thường, không c̣n phân biệt đâu là lư, đâu là t́nh, đâu là Trang sinh, đâu là hồ điệp nữa (câu 3199 - 3206). Chỉ dưới tính cách ấy, ư niệm huyền bí hay ư niệm siêu việt (mystique hay transcendance) mới được khai mở, v́ rằng: “Huyền bí của đức Phật khởi điểm khám phá ra tính vô thường vô ngă của vạn sự và của chính ḿnh. Nhưng huyền bí của Ngài không phải là một chủ nghĩa huyền bí, và sự nhận định của ngài về tính cách vô nghĩa của vạn sự không phải là một chủ nghĩa hư vô” [8]. Do đó, kinh nghiệm huyền bí sẽ chấm dứt sự huyền bí, khi Kim Trọng khám phá được qua tiếng đàn của Kiều (câu 3209), sự tẻ vui ở đời chẳng qua là do cái tâm mà ra. Trong ư nghĩa của sự b́nh thường vượt lên trên sự tầm thường, con người sẽ thấy được vạn vật một cách y nhiên như thuở nào mà dưới nhăn quang cạn cợt của họ không thể thấy rơ được nó. Cũng vậy, ư nghĩa đoạn trường trong cuộc đời Thúy Kiều xét như một kinh nghiệm đă là chất liệu cần thiết để nàng vượt thắng, nhận rơ mặt mũi ḿnh hơn. Và như những kẻ uống trà, mỗi người đều nhận ra được mùi vị nó theo cảm quan, theo tâm thức của ḿnh, nàng Kiều đă uống tách trà kinh nghiệm đó theo chính bản chất của nàng, chứ không phải do sự mặc khải nào từ bên ngoài. Đạm Tiên, kẻ ám ảnh cuộc đời Kiều không nguôi, chẳng qua là h́nh bóng của những vọng tưởng, của cái tâm hư huyễn do các thức chuyển biến gây nên. Chưa bước qua cầu đoạn trường sẽ thấy tính cách thần bí trong mối .giao ngộ của Kiều với đời sống, với chính ḿnh, trải qua rồi lại thấy mọi sự đều b́nh thường. Chính v́ lẽ ấy, Chân Tịnh Khắc Văn đă nói trong bài thuyết pháp của sư:

 

“Khi nói đến Thiền tất cả và tất cả là chứng nghiệm. Cái ǵ không căn cứ trên chứng nghiệm là ở ngoài Thiền. V́ vậy, học Thiền là phải học từ chính sự sống mà ra, và phải hoàn toàn thâm nhập sự chứng ngộ. Nếu có cái ǵ c̣n chưa thấu đáo, đó là mở lối cho thế giới ác quỉ. Cổ đức há chẳng nói rằng vô số tử thi nằm dài trên mặt đất bằng phẳng và những ai đă qua khỏi đám gai góc rậm rạp đều thực sự là những chân nhân”. [9]

 

Chính v́ thế, ta có thể nói là Kiều đă tu và đă chứng ngay trong nỗi đoạn trường của nàng. Đừng lầm tưởng rằng sự chứng đắc, chứng nghiệm của Kiều có tính cách cao siêu, huyền bí như sự mặc khải đối với tuyệt đối thể hay thượng đế; sự chứng nghiệm đó đă đưa nàng đến bờ giải thoát Tiền Đường để được “sống lại” với một tâm thức trong sáng khởi đi từ số phận lênh đênh của nàng. Thấy được, tức là giải thoát.   

Giữa “thấy” và “chưa thấy” cách nhau bởi một bờ rào ngăn cản của lư luận, suy lư. Và danh từ thần bí hay siêu việt chẳng qua là kết quả của sự suy lư đẩy đưa lên cao mà thôi.

 


 


[1] Quách Tấn, S.đ.d, trang 128-129.

[2] Daistez T. Suzuki, Thiền luận 1, S.đ.d, tr, 613.

[3] Nhất Hạnh, S.đ.d, tr. 53.

[4] Daistez T. Suzuki, Thiền luận II, S.đ.d, tr, 151.

[5] Trích lại Thích Thiện Hoa, S.đ.d, tr. 28 và 29.

[6] D.T. Suzuki, S.đ.d, Tập 2, tr. 131.

[7] Thiện Cẩm, Quan niệm giải thoát trong Phật giáo cũ, Sài G̣n, Đa Minh XB, 1970, tr.108.

[8] Thiện Cẩm, S.đ.d, tr. 110.

[9] D.T. Suzuki, S.đ.d, Tập 2, tr. 127.

 

  

 

Đọc Kỳ 26

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com