trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

 

PHẦN HAI 

 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH


 

CHƯƠNG II

 

  SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA TƯ TƯỞNG

ĐẠO LĂO VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT

TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

 

  


Mục 5

 

KHÚC ĐÂU ĐẦM ẤM DƯƠNG H̉A

 

Trong một đoạn quan yếu khác của Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta cũng lại thấy tư tưởng của Đạo gia và đạo Phật mà Tố Như tiên sinh thâm ngộ được dung hợp với nhau khá chặt chẽ. Giữa những bài thơ Đường phong phú và súc tích, tiên sinh chỉ lựa được một bài “Cẩm sắt” của Lư Thương Ẩn đời Đường bên Trung Hoa) chất chứa nhiều ư nghĩa để đem vào Truyện Kiều làm ṇng cốt đoạn tả Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe trước khi “cuốn dây từ đó, về sau cũng chừa”. Và với bài thơ này, tiên sinh lại chỉ lựa có 4 câu (thực và luận) để đưa vào mà thôi. Bốn câu thơ đó là những câu: 

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp   莊生曉夢迷胡蝶

Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên    望帝春心託杜鵑

Thương hải nguyệt minh, châu hữu lệ 滄海月明珠有淚

Lam điền nhật noăn, ngọc sinh yên   藍田日暖玉生煙

李商隱錦瑟

Tuy nhiên, ư nghĩa của bốn câu thơ trên khi đem vào Truyện Kiều đă khoác một màu sắc khác hơn với ư nghĩa của tiếng đàn “Cẩm sắt” mà Lư Thương Ẩn sáng tác. “Cẩm sắt” được Tố Như đưa vào nhằm diễn tả lại cuộc đời của Thúy Kiều, kể từ lúc gặp gỡ rồi chia phôi cho đến khi tái hồi lại với Kim Trọng. Chúng ta thấy hai ông Bửu Cầm và Tạ Quang Phát đă nhận xét: “Trong bài Cẩm sắt, câu ba tả tiếng đàn mơ màng, câu tư tả tiếng đàn ảo năo, câu năm tả tiếng đàn trong trẻo, câu sáu tả tiếng đàn ấm áp, đều rất đúng với cuộc đời của Thúy Kiều theo từng giai đoạn: cũng mơ màng, cũng ảo năo, cũng trong trẻo và cũng ấm áp, nồng nàn”. Đồng thời, hai vị này cũng cho đây là dụng ư khéo léo của Tố Như thi sĩ khi dùng tiếng đàn để phác họa một cách tổng quan cuộc đời Thúy Kiều: “Qua một thời gian trọn hai thế kỷ, cái dụng ư khéo léo của Cụ Nguyễn Du mới được chúng ta ngày hôm nay thấu hiểu, hay nói một cách khác, nhà thơ Tố Như không thiếu người tri âm tri kỷ. Chúng tôi nói nhà thơ Tố Như không thiếu người tri âm tri kỷ mà không nói đến Thanh Tâm Tài Tử, nhà văn Trung Quốc đă viết ra Kim Vân Kiều Truyện, v́ dụng ư phiên bốn câu trong bài Cẩm Sắt là riêng của Nguyễn Du, Lam bản Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử ở đoạn đánh đàn này không có nói ǵ đến bài Cẩm Sắt cả”. [1]

 

Trước lập luận của hai vị này, chúng ta dễ dàng đồng ư là việc đưa bài Cẩm Sắt vào Đoạn Trường Tân Thanh là điều mà Lam bản Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Tử không nói đến. Song chúng ta, nếu xét kỹ, sẽ thấy ư nghĩa của bài Cẩm Sắt không xa rời với đoạn văn của Lam bản bao nhiêu: “Lúc bắt đầu tiếng đàn ào ạt rồi chuyển sang một điệu th́nh ĺnh nghe lai láng, dịu ḥa như xuân ấm, thơm nồng như hoa nở, trong trẻo như trăng sáng, đẹp đẽ như én múa, một lần thoáng qua th́ lại thông suốt, một lần ngẫm đến th́ ḷng say sưa, một lần tưởng lại th́ hồn tiêu tán, một lần tưởng lại th́ tinh thần sảng khoái thênh thang” 2. và với ư nghĩa như thế th́ quả thật bài Cẩm Sắt” của Lư Thương Ẩn rất tương hợp với chính lam bản Truyện Kiều nhằm mô tả cuộc đời của Thúy Kiều.    

 

Nhưng theo thiển ư, cái dụng ư khéo léo của Nguyễn Du không nằm trên chiều hướng đó. Nếu xét kỹ càng những câu thơ của Tố Như chúng ta sẽ nhận chân rơ hơn điều này:

 

“Khúc đâu đầm ấm dương ḥa,  (c. 3199)

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.

Khúc đâu êm ái xuân t́nh,

Ấy hồn Thục Đế hay ḿnh đỗ quyên.

Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông. 

Lọt tai nghe suốt năm cung,

Tiếng nào là chẳng năo nùng xôn xao”.

 

Những chữ “dương ḥa”, “xuân t́nh”, “trong”, “ấm”, “lọt tai” và “xôn xao” không thể nào biểu tượng được giai đoạn nói lên những tiếng nấc nghẹn ngào của Thúy Kiều ... sống trong cảnh phong trần vùi hoa dập liễu (Sđd, tr. 13) như hai ông Bửu Cầm và Tạ Quang Phát nhận xét. Cái khéo léo hoặc dụng ư sâu xa của Tố Như ở đây nhắm đến việc mô tả trạng  thái quân b́nh tâm thức của Kiều đă đạt được sau bao lần “thân tàn gợi đục khơi trong mà thôi.

 

Thực vậy, ngoài những chữ nêu trên, các chữ “hồ điệp”, “Trang sinh”, “Thục Đế” và “đỗ quyên” được sắp xếp tương ứng từng đôi một để diễn tả một bên cảnh giới của Huyễn và một bên là cảnh giới của Thực, mà cả Đạo gia lẫn Thiền gia đều hướng đến. Huyễn hay Vô, Thực hay Hữu đều nương nhau mà xuất hiện, nẩy sinh theo đúng với tính cách nhị nguyên như đă được tŕnh bày trong những phần trên. Đạo Đức Kinh của Lăo Tử cũng đă thường xuyên nhắc nhở:

 

“Hữu vô tương sanh”  (有 無 相 生)

    (Đ.Đ.K. ch. II) 

 

“Hồ điệp hay là Trang sinh” , “hồn Thục Đế hay ḿnh đỗ quyên” , “Huyễn” hoặc “Thực” , “Không” hay “Có” đều từ một thực tại mà ra cả. Thực tại đó chính là trạng thái “dương ḥa” , “êm ấm xuân t́nh”, “trong”, “ấm”, “xôn xao” biểu tượng của một Thúy Kiều, một tâm thức đă đạt đến chỗ an b́nh, nghĩa là thông suốt được ư nghĩ cuộc đời, như lời Kim Trọng phát biểu, do “bởi ḷng này” mà ra, tức là cái Tâm của mỗi người cần phải đạt tới vậy. Tư tưởng Thiền gia cũng đứng trên quan điểm “Hữu vô tương sanh” (“hay là”, “hay ḿnh”) của Lăo Tử khi cho rằng: “nói có” là do ở “ không”, nói “không” là do ở “có”. Đó mới là thấy chân thực. Phàm thấy thực th́ không ǵ là chẳng thấy, mà cũng không ǵ mà không chẳng thấy, thấy khắp mười phương mà chưa từng có thấy ... Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy phát sanh từ cái thế đối đăi ấy. Nếu trong chẳng khởi tâm th́ ngoài chẳng sanh cảnh. Cho nên tâm và cảnh có lắng hết cả hai th́ mới gọi là chân kiến.[2]

 

Nói khác đi, tinh thần Đạo gia và Thiền gia đă soi sáng phần nào, cũng như ít nhiều có ảnh hưởng trong tư tưởng của Nguyễn Du tiên sinh, mà đặc biệt nhất là những câu thơ trên. Trong Đoạn Trường Tân Thanh, tinh thần ấy rất phù hợp với quan niệm về Đạo của Lăo Tử hoặc Bát Nhă Ba La Mật của nhà Phật. Với Lăo gia, “Đạo khả đạo phi thường đạo” (Chương I) nhằm nói đến một thực tại “bất khả tư ngh́”. Với nhà Phật “Bát nhă ba la mật tức không phải Bát nhă ba la mật, thế mới gọi là Bát nhă ba la mật”. [3]

 

Riêng với Tố Như, xuyên qua ư nghĩa này, chúng ta có thể hiểu theo cách suy diễn: “Trang sinh không phải là Trang sinh mới thật Trang sinh”, “thực tế không phải là thực tế mới chính là thực tế”. Nhưng Trang sinh tỉnh giấc không biết ḿnh là bướm hay bướm là Trang sinh cũng như “hồn Thục Đế” và “chim đỗ quyên” là hai thực tại, thực tại nào là “hồn Thục Đế” thực tại nào là “ḿnh đỗ quyên”. Cho nên, chúng ta cũng có thể suy diễn tiếp: Hồ điệp chính là Trang sinh, Thục đế chính là ḿnh đỗ quyên. Cả hai không c̣n tách biệt, chẳng c̣n phân biệt nhau nữa, v́ cả hai đều nói đến một thực tại duy nhất là “tẻ vui tại ḷng này”, tức là cái Tâm chứng đắc của Kiều. Cái “thiên địa” hay “vạn vật” mà Lăo Tử đề cập ở chương đầu tiên Đạo Đức Kinh rốt cùng cũng chỉ là một, do một “tương sanh” ra mà thôi.

 

Thành thử những ngôn từ được Nguyễn Du tiên sinh sử dụng có tác dụng diễn tả trạng thái “b́nh thường” an vui mà Kiều đă thức ngộ được sau bao nhiêu năm luân lạc. Trạng thái “dương ḥa”, “đầm ấm”, “trong”, “ấm” v.v... mà Thúy Kiều đạt được chính là trạng thái mà Thiền sư gọi là “an vui tự tại” hay “thảnh thơi”, nghĩa là biểu tượng của một tâm thức quân b́nh, điều ḥa. Nếu xét kỹ hơn, chúng ta thấy dụng ư của Tố Như khi để Kiều giải bày trạng thái chứng nghiệm của ḿnh bằng tiếng đàn th́ quả thật rất sâu xa. Ở giữa những tiếng đàn êm ái đó, nàng Kiều trong tâm thức yên b́nh đă im tiếng để mặc nhiên, để cho tiếng đàn tự bày lộ. “Xưa sao sầu thảm giờ sao vui vầy?”. Câu hỏi đó Kiều vẫn không trả lời thẳng cho Kim Trọng. Kim Trọng là chứng nhân của sự thay đổi lớn lao tâm linh của nàng Kiều khi nhận ra tiếng đàn “trong sao châu nhỏ” và “ấm sao hạt lệ” đó . Hoặc giả nàng đă trả lời, nhưng lại trả lời gián tiếp, nàng không nói ǵ về sự thay đổi của ḿnh cả. Song câu trả lời của nàng lại cũng cho thấy nàng đă thành tựu lẽ đạo:

 

“V́ chút nghề chơi               (c. 3211)

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”. 

 

“Chút nghề chơi” là những mê lầm mà Kiều chính là biểu tượng cho thân phận con người bị đặt vào màn lưới của mệnh, của nghiệp. Chỉ đến bây giờ khi ư thức rơ rệt được “đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”, nàng mới được thảnh thơi tự tại. Đây cũng chính là điều mà Lăo Tử đă mệnh danh là Tri Ḥa. Biết được sự ḥa điệu quân b́nh cũng chính là biết được lẽ Thường của Đạo, và kẻ nào biết được cái Thường ấy chính là sẻ sáng suốt giác ngộ:

 

“Tri ḥa viết thường, tri thường viết minh”

(Đạo Đức Kinh, ch. 55)  

 知 和 曰 常,知 常 曰 明

 

Và Thúy Kiều từ giây phút đó có quyền nói về nỗi đoạn trường đă trải qua. Từ đây, nàng đă đạt đến đức Minh của Đạo gia hay cái B́nh Thường Tâm của Thiền gia:

“Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa” (c. 3214)

Nói khác đi, “xin chừa” hoặc “cuốn dây” v́ nàng đă lắng đọng và rửa sạch những mê lầm để bước vào cơi ngộ, giác được cái thanh tịnh hay đức Tĩnh mà bấy lâu “v́ chút nghề chơi”, v́ chút mê muội nó đă trở thành những cợn cáu che phủ tâm thức sáng của nàng đến nỗi nàng phải xác nhận.: “Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”. Đạt đến mức độ ấy, thấy rơ được cả một bước đường điêu linh từng dày ṿ ḿnh, nàng mới an hưởng được trong nguồn hạnh phúc thật b́nh thường cùng người yêu dấu cũ.

 

Phải chăng, đây chính là cùng đích của thân phận làm người, tức đạt đến điều mà Lăo Tử gọi là:

“Giải kỳ phân, ḥa kỳ quang, đồng kỳ trần” [4]   

解 其 分,和 其 光,同 其 塵

(hóa giải mọi phân chia, điều ḥa ánh sáng, tuy cùng ở nơi trần cấu) 

 

Phải chăng, tiếng đàn của nàng Kiều đă biểu lộ được con đường  Trung Đạo (中道) của Phật gia hoặc Trung Ḥa (中和) của Nho gia? Phải chăng đó chính là điều mà Tố Như khát khao: 

“Chẳng tu mà cũng như tu mới là!”  (c. 3108)


 

[1], 2 Bửu Cầm và Tạ Quang Phát, Bài Cẩm Sắt của Lư Thương Ẩn và Cuộc đời Thúy Kiều, Sài G̣n, tạp chí Văn số 44, ngày 15-10-1965, trang 12, 13, 14.

[2] Bồ Đề Đạt Ma, S.đ.d, tr. 88 và 89.

[3] Kim Cương và Tâm Kinh, dịch giả Thích Thiện Hoa, Sài G̣n, Hương Đạo XB, 1976, tr. 84.

[4] Lăo Tử, S.đ.d, chương 4.

 

 

Đọc Kỳ 19

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com