trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

 

PHẦN HAI 

 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH


 

CHƯƠNG II

 

  SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA TƯ TƯỞNG

ĐẠO LĂO VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT

TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

 

  


Mục 3

 

TRONG CƠN ÂM CỰC, DƯƠNG HỒI KHÔNG HAY

 

Trên ư hướng ấy, chúng ta thấy Truyện Kiều đă được xây dựng dựa vào nguyên lư âm dương. Chúng ta có thể chia cuộc đời Kiều làm ba giai đoạn:  

1. Giai đoạn trước khi xảy ra gia biến, gia đ́nh sum họp, gần gũi người yêu là giai đoạn mang tính chất của Dương (). Song, trong khung cảnh ấy đă có mầm mống của những tai họa sắp xảy ra cho đời Kiều và gia đ́nh nàng.  

“Bây giờ rơ mặt đôi ta,   (c. 443-444)

 Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”  

2. Giai đoạn xảy ra việc gia biến khiến nàng phải bán ḿnh chuộc cha và lăn lưng vào kiếp phong trần mang tính Âm () và kết thúc bằng cái chết của Kiều nơi sông Tiền Đường, v́ Kiều:   

“Đă không biết sống là vui”      (c.2613) 

Nhưng khi nàng:  

“Đem ḿnh gieo xuống giữa ḍng Tràng Giang”  (c. 2636) 

nghĩa là lấy cái chết (Âm) để giải thoát th́ trong cái “chết” vẫn hàm ngụ cái “sống”:
 

“Đời người đến thế th́ thôi,       (c. 2645)

  Trong cơn âm cực, dương hồi không hay.”

3. Giai đoạn sau cùng là giai đoạn tái hồi với người yêu xưa cũ, đoàn tụ với gia đ́nh và sống một cuộc đời hạnh phúc được xem là giai đoạn “dương hồi”. 

“C̣n nhiều hưởng thụ về lâu  (c. 2724)

Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào”   

Tuy nhiên, ư nghĩa quan trọng nhất có lẽ là ư nghĩa của giai đoạn Thúy Kiều thu ḿnh t́m lấy cái chết ở sông Tiền Đường. Nếu cuộc đời Kiều  chấm dứt ở đây th́ Đoạn Trường Tân Thanh chỉ là một câu chuyện t́nh, câu chuyện về một kiếp người đầy dẫy tính cách bi đát. Nhưng cũng có thể nói cuộc đời khổ nạn của nàng đă chấm dứt, để nhường bước cho cuộc đời mới. Con người của Kiều đă chết đi, song lại nhờ cái chết ấy để có được một Thúy Kiều tâm thức hoàn toàn đổi khác mà chúng ta sẽ bàn rơ hơn trong những phần về sau. Đây là điều mà Dịch Kinh (Hệ từ) gọi là “cùng tắc biến” và Lăo Tử xem đó là trạng thái báo hiệu cho một cuộc đời mới.  

“Tử nhi bất vong giả thọ”[1] 

 死 而 不 忘 者 壽

(Chết mà không mất th́ sống lâu)  

Chính Tố Như tiên sinh cũng phác họa sự thay đổi đó dù giai đoạn trước khi t́m cái chết, Kiều chưa ư thức rơ “chết” rồi ḿnh sẽ sống lại nơi nào, ra sao:  

“Chân trời mặt bể lênh đênh      (c. 2607)

Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào?”  

“Tử sinh chốn nào”, chính là câu hỏi của một Thúy Kiều đă thấy một cách mờ ảo về kiếp lai sinh của ḿnh và bắt buộc nàng phải chọn lấy cái chết, ngoài ra không c̣n cách nào khác để tránh được cái “lưới trời” v́:  

“lưới trời lồng lộng, thưa mà không dễ thoát”

             天 網 恢 恢,疏 而 不 失。

(Thiên vơng khôi khôi, sơ nhi bất thất)[2]   

“Tấm ḷng phó mặc trên trời, dưới sông” (c. 2634)

Thế rồi Thúy Kiều đă liều ḿnh t́m cái chết, phó mặc cho ông trời đưa đẩy. Tuy vậy, nàng không phải là kẻ hành động ngu muội, mê lầm v́: 

“tấm thân nào biết thiệt tḥi là thương”    (c. 2614)

và cũng v́ nàng đă ư thức rơ được muốn “ra sống” th́ phải “vào chết”  

“xuất sinh nhập tử”[3]                (出 生 入 死

Trong cái sống đă có cái chết, trong cái chết cũng có cái sống, như Trang Tử đă viết: 

“Phương sinh phương tử, phương tử phương sinh”

 (vừa sống vừa chết, vừa chết vừa sống)

                              (Nam Hoa kinh, Tề Vật luận, nội thiên, thiên 2)  

Cho nên nàng mới được sống lại, thụ hưởng hạnh phúc sau khi rửa sạch những oan khiên do mệnh trời an bài cho cuộc đời nàng:  

“Túc khiên đă rửa lâng lâng sạch rồi”      (c. 2688)

hoặc:  

“Nạn xưa, trút sạch làu làu”                    (c. 2737)

Hơn thế nữa, Thúy Kiều cũng thấy được lẽ huyền vi của đạo trời và đạo làm người nên quyết lựa chọn cái chết đế báo bổ ân nghĩa của Từ Hải cho trọn đạo vợ chồng, đồng thời tuân theo cái mệnh trời mà Đạm Tiên là một biểu tượng cho số kiếp của nàng:  

“Đạm Tiên nàng nhé có hay     (c. 2623)

Hẹn ta, th́ đợi dưới này rước ta” 

Nói cách khác, Thúy Kiều hơn bất cứ ai đă đi trọn con đường của kiếp người, v́ nàng đă thấu rơ và ư thức được lẽ sinh tử: 

“Tri ḥa viết tường,

tri thường viết minh,

ích sinh viết tường”

            知 和 曰 祥,

            知 常 曰 明,

            益 生 曰 祥

(Biết được đức ḥa tức là biết được đức thường, biết được đức thường tức là sáng suốt, càng tăng cái sống lên là đi về chỗ không lành)[4] 

Chính v́ biết rơ “ích sinh viết tường” đó nên nàng mới đạt đến sự điều ḥa, thấu được lẽ thường của trời đất. Một Thúy Kiều trước cái chết đă được Nguyễn Du phác họa trong khung cảnh: 

“Triều đâu nổi sóng đùng đùng”        (c. 2619)

Và một Thúy Kiều sau khi đă ra khỏi kiếp đoạn trường đă “trút sạch làu làu” nạn xưa mà khung cảnh cũng gián tiếp cho thấy tâm thức của nàng: 

“Bốn bề bát ngát mênh mông,         (c. 2735)

Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.

Nạn xưa trút sạch làu làu ...”  

Riêng với Phật gia, ư nghĩa của cái chết của Thúy Kiều cũng có thể được giải thích bằng nguyên lư Duyên Khởi. Theo đó là sinh tử trong biến tŕnh thời gian được đạo Phật quan niệm như là một ṿng tṛn không có khởi đầu, không có sự chấm dứt, mệnh danh là bánh xe luân hồi hay bánh xe sinh hóa. Nếu cái này có tức cái kia có, cái này sinh tức cái kia sinh trong liên tục thời gian th́ cái chết mà Thúy Kiều chọn lựa để nhằm “có” cái sống, tức có được sự sinh. Và cái sinh ra hoàn thành từ cái chết đó chính là tâm thức giải thoát mà Kiều đă đạt được từ sự từ bỏ rửa sạch những khổ đau những vọng tưởng đè nặng đời nàng:  

“Túc khiên đă rửa lâng lâng sạch rồi        (c. 2688) 

Khi nên trời cũng chiều người” 

Đồng thời, xét định một cách cởi mở hơn, đạo Phật cũng chủ trương về lẽ sinh tử ít nhiều trùng hợp với đạo gia. Sự  Sinh chính là cái nhân của sự Tử và Tử lại là nhân của cái Sinh trong ṿng biến hóa theo nguyên lư Nhân Quả hay sự chuyển hóa của luật Âm Dương. Một học giả về đạo Phật là ông Juniiro Takakusu đă viết: 

“Một sinh vật chết đi là không chấm dứt, ngay đó, một đời sống khác bắt đầu trải qua một quá tŕnh tương tự và cứ lặp lại như vậy thành một ṿng tṛn sinh hóa bất tận. Theo đó, một sinh vật khi được nh́n trong liên hệ thời gian, nó tạo thành một ḍng tương tục không gián đoạn”.[5]

Và cũng chính đó là cái Nghiệp của Kiều phải trải qua, bó buộc phải chấp nhận v́ nàng c̣n đang trong ṿng sinh hóa, ṿng Sinh Tử của Nhân Duyên, và cũng chính của ṿng biến hóa của Âm Dương nữa:   

“Duyên đâu ai dứt tơ đào,         (c. 2609)

  Nợ đâu ai đă dắt vào tận tay.

  Thân sao thân đến thế này?”

“Hữu thân hữu khổ”, nên điều cần thiết là phải “Vô thân” v́ “cập ngô vô thân, ngô hữu ḥa hoạn” - (Nếu ta không có thân, ta đâu có lo lắng)2:

爲吾有身,及吾無身,吾有何患(道德經)

 

Đứng trước lựa chọn cái Chết và Sống, Âm và Dương, hữu thân và vô thân, nàng Kiều đă chọn con đường “vô thân” để t́m một lẽ sống cao hơn cho bản thân: 

“Đă không biết sống là vui       (c. 2613)

Tấm thân nào biết thiệt tḥi là thương”.   

Đức Phật cũng thường dạy bảo các đệ tử:

“Người nào thấy rơ được dukkha cũng thấy luôn nguyên nhân của dukkha, cũng thấy luôn sự diệt dukkha và cũng thấy luôn con đường đưa đến sự diệt dukkha”.[6] 

Con đường mà Thúy Kiều lựa chọn chính là cái chết hầu chấm dứt khổ đau, trầm luân, vọng tưởng. 

Ngoài ra, thiền gia cũng khai triển ư niệm sanh tử này một cách rộng răi hơn và rất gần gũi với đạo gia. Chúng ta có thể mượn ư đó để giải thích thêm về ư nghĩa sự lựa chọn cái chết của Thúy Kiều khi nàng dám “liều thân” buông xả “hữu thân” để đạt đến “vô thân”. Vả lại, Kiều cũng không yêu hoặc ghét về sinh hoặc tử, v́ c̣n ghét tức c̣n tâm lo sợ, chỉ khi nào quên thân hoặc vô tâm nàng mới đạt đến bờ Tĩnh, bến Giác. Bồ Đề Đạt Ma đă nói rơ:   

“Sanh tử tâm lo sợ, vô vi tŕnh tự an,

cảnh quên tâm cũng diệt, biểu tính lặng

dung khoan” [7] 

hoặc: 

“Xuất ĺa sanh tử gọi là xuất gia.

 Chẳng chịu quả báo gọi là được đạo.” [8]

“Bước qua ḍng sanh tử”, “ĺa sanh tử” chính là những thuật ngữ thường được sử dụng trong thiền gia, có thể là cách giải thích phù hợp về ư nghĩa sự lựa chọn cái chết của nàng Kiều. Cách giải thích bằng nhăn quan Đạo gia và Phật gia cuối cùng đều gặp gỡ nhau. Gọi bằng từ ngữ nào th́ thực tại vẫn là thực tại, giải thích chỉ để mà giải thích, trừ phi chính mỗi chúng ta là Thúy Kiều, là Nguyễn Du mới thấu rơ ư nghĩa đó mà thôi.


 

[1] Lăo Tử, S.đ.d, chương 33.

[2] Lăo Tử, S.đ.d, chương 73, 50.

[3] Lăo Tử, S.đ.d, chương 73, 50. 

[4] Lăo Tử, S.đ.d, chương 55.

[5] Junjiro Takakusu, Các tông phái của đạo Phật, bản dịch Tuệ Sĩ, Sài G̣n, Ban Tu Thư Viện Đại học Vạn Hạnh, 1973, trang 56.

2 Lăo Tử, S.đ.d, chương 13.

[6] W. Rahula, Con đường thoát khổ, Thích nữ Trí Hải dịch, Ban Tu Thư Viện Đại học Vạn Hạnh XB, 1966, trang 47.

[7] Bồ Đề Đạt Ma, S.đ.d, trang 34 và 84.

[8] Bồ Đề Đạt Ma, S.đ.d, trang 34 và 84.

 


 

Đọc Kỳ 17

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com