trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

 

PHẦN HAI 

 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH


 

CHƯƠNG II

 

  SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA TƯ TƯỞNG

ĐẠO LĂO VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT

TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

 

  

Bên cạnh nguồn ảnh hưởng sâu đậm của đạo Nho, chúng ta cũng nhận thấy một số dấu vết đạo Lăo đă được đem vào Đoạn Trường Tân Thanh ít nhiều có những điểm tương hợp với quan điểm đạo Phật. Tuy nhiên, giữa đạo Phật vào đạo gia có nhiều điểm tương đồng chặt chẽ, v́ thế rất khó phân định một cách rơ ràng và chính xác, ngoại trừ những biến thái có tính cách phổ cập trong quan niệm b́nh dân.  


Mục 1

 

CHỮ TÀI CHỮ MỆNH KHÉO LÀ GHÉT NHAU

 

Trước hết. cái quan niệm “tài mệnh tương đố” hoặc “bỉ sắc tư phong” mà Nho gia gọi là mệnh, Phật gọi là nghiệp th́ đạo gia cũng gọi đó là đạo trời do sự biến hóa âm dương mà ra. Thật vậy, Kiều sinh ra là một cô gái không những có tài mà c̣n có sắc nên nàng phải đứng trong ṿng của luật bù trừ của  trời đất.  Lăo Tử cho rằng:

 

“Thiên chi đạo tổn hữu dư nhi bổ bất túc”

 天 之 道  損 有 餘 而 補 不 足         (道德經)

   (Đạo của trời bớt chỗ có thừa để bù vào chỗ thiếu.)[1]

 

Đồng thời, Lăo Tử cũng từ sự biến hóa để cho rằng: “cây cao th́ hưởng gió” (Đại thụ chiêu phong) và “kẻ mặt xấu thường ghen ghét những người mày ngài” (xú diện ố nga mi). Chính v́ định luật âm dương chuyển biến như thế nên nàng Kiều đă bị đày vào kiếp phong trần. Trời đất có một thứ định luật riêng biệt của nó mà tất cả sự vật trong cơi vũ trụ, đều phải chấp hành dựa trên sự đối chọi của “hữu” và “vô”, “cao” với “thấp”, “xấu” và “tốt” v.v... nghĩa là từng cặp tương tranh, đối chọi lẫn nhau. Nằm trong ṿng cái định luật tự nhiên của trời đất như thế, Thúy Kiều, một kẻ tài sắc có thừa không thể nào tránh thoát sự bù trừ của tạo vật tự nhiên để lăn lưng vào chốn phong trần theo một nghiệp kiếp bất khả kháng:

 

“Đă cho lấy chữ hồng nhan,               (c. 1271)

Làm cho, cho hại, cho tàn cho cân!

Đă đày vào kiếp phong trần

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.”

 

“Cho cân” nghĩa là cho thỏa ḷng ghen ghét của tạo vật, nhưng cũng có nghĩa là tuân theo luật bù trừ, v́ Kiều đă được  “cho lấy chữ hồng nhan”. Chính sự ghen ghét hay sự bù trừ ở đây đă đưa vào chốn đoạn trường mà nàng khó ḷng tránh thoát:

 

Thiên vơng khôi khôi, sơ nhi bất thất

天 網 恢 恢,疏 而 不 失         (道德經)

(Lưới trời lồng lộng, thưa mắt mà không thể lọt)

 

Chính Tố Như tiên sinh đă từng suy ngẫm luật thừa trừ này trong những bài thơ chữ Hán của ông ngoài việc đưa vào bên trong Đoạn Trường Tân Thanh:

 

Phàm sanh phụ kỳ khí, thiên địa phi sở dung

(Điệu khuyển)  

  凡 生 負 奇 氣,天 地 非 所 庸        (悼犬)

(Phàm sinh ra có khí phách khác thường, trời đất không có chỗ dung túng - Tiếc thương con chó) 

 

V́ thế, ít nhiều Truyện Kiều của Tố Như đă được xây dựng từ quan niệm và một định luật có tác dụng trên mọi sự vật là định luật bù trừ bắt nguồn từ đạo gia. Thành thử, định luật “tài mệnh tương đố” được đem vào phần mở đầu Truyện Kiều, tuy có liên quan trực tiếp với Nho gia bởi chủ trương chữ “mệnh”, nhưng lại có căn nguyên từ Đạo gia. Đây cũng là đầu mối tạo thành vạn vật như Kinh Dịch chủ trương:  

 

            “Nhất âm nhất dương chi vị đạo”

       一陰 一 陽 之 爲 道                (經易)

   Một âm một dương là đạo    (Kinh Dịch, ch. 20)

 

Kinh Dịch được xem là nguồn cảm hứng để Lăo Tử sáng tác Đạo ĐứcKinh và các người thuộc phái Đạo gia về sau cũng dựa vào đó để khai thác nhiều vấn đề khác nhau về huyền nhiệm.

 

Mặt khác, Đạo Đức Kinh của Lăo Tử cũng nhắc nhở chúng ta cần tránh thành kiến, tư dục trong khi t́m tới lẽ đạo, t́m đến chân lư. Chữ Tài và Mệnh tuy có “tương đố” nhưng không phải tách biệt nhau hoặc đối nghịch nhau, mà lại bổ khuyết cho nhau theo luật bù trừ. Và chỉ dưới nhăn quan không tư dục, vô phân biệt mới có thể nhận chân được sự thật.   

Sự thật đó là mối đồng nhất giữa Tài và Mệnh bởi Tâm của con người và chỉ kẻ nào “ḷng” không tư dục, thành kiến mới thấy rơ sự ḥa giải giữa hai mối tương đố này. [2]

 

“Thường không tư dục, mới nhận thấy chỗ kỳ diệu; thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia cách; cả hai đồng với nhau; xuất thân cùng một chỗ nhưng tên khác nhau. “Đồng” nên gọi là “huyền”, huyền rồi lại huyền. Chúng là cửa ra vào của sự kỳ diệu (của Đạo)” - Từ chữ “Tài”, Tố Như đă khéo léo đưa Thúy Kiều đến chỗ nhận thức được chữ “Mệnh”, hay nói khác hơn, đây là ư nghĩa của chữ Huyền rồi lại sinh ra Huyền, cho đến khi nào chúng Đồng với nhau. Đồng với nhau (tức là đến giai đoạn thứ ba của tiến tŕnh biện chứng như đề cập ở mục trên) trong sự chứng nghiệm của chữ tâm: “Cỗi nguồn cũng tại ḷng này mà ra” - Tâm là nơi hóa giải được sự xung khắc giữa tài và mệnh theo ư nghĩa của chữ Đồng. Vả lại, cuộc đời nhân vật Thúy Kiều có gian truân khổ ải mới là cơ hội để nàng trau luyện viên ngọc tâm của ḿnh “Ngọc bất trác bất thành khí” nên khổ đau hay những tai họa liên tiếp giáng xuống số mệnh của Kiều cũng chỉ là bước đường cần phải trải qua để tạo lập được sự quân b́nh về sau. Lăo Tử cũng từng chủ trương:

 

“Họa hề phúc chi sở ỷ”

     兮 福 之 所 倚               (道德經)

   (Họa là nơi phúc dựa vào) [3]

 

Trong tai họa đă hàm chứa hạnh phúc và ngược lại, phúc cũng là nơi họa nằm phục theo lư lẽ tự nhiên của đạo trời đất. Điều quan trọng là làm thế nào thấy được đầu mối từ nơi chính ḿnh. Nhân vật Tam Hợp được Nguyễn Du có khi gọi là đạo (câu 2651 : “Gặp bà Tam Hợp đạo cô”) và liền ngay đó, gọi là sư (câu 2655 : “Sư rằng: Phúc họa đạo trời”) biểu tượng cho tư tưởng Đạo gia và nhà Phật pha trộn, đan lồng vào nhau khi xác tín:   

 

“Sư rằng: Phúc họa đạo trời,          (c. 2655)

Cội nguồn cũng ở ḷng người mà ra”

 

T́m trở về với cội rễ, với cội nguồn nghĩa là trở về với một tâm thức đă lắng đọng, đă biết tuân theo mệnh trời và từ đó nhận ra đầu mối b́nh thường của vạn vật, của ḷng người:  

 

“Qui căn viết tịnh,                   歸根曰靜

thị vị viết phục mệnh;              是謂曰復命

phục mệnh viết thường;            復命曰常

tri thường viết minh.”               知常曰明

                                                      (道德經)

 

Đạt đến tŕnh độ nhận thức được chân lư của đời sống nằm nơi chữ “Thường” cũng là quan niệm của nhà Phật sau khi đă trải qua những quả kiếp nghiệp duyên để thức ngộ được “sự b́nh thường mới là đạo” (b́nh thường tâm thị đạo) như thiền gia luôn luôn nhắc nhở chúng ta. Chính v́ thế mà tiếng đàn của Kiều khi tái hợp với Kim Trọng bây giờ đă “đầm ấm dương ḥa” và hạnh phúc cuối cùng nằm trong sự b́nh thường của khung cảnh sum họp gia đ́nh mà thôi. Thêm vào đó, ư nghĩa của câu “Phúc họa đạo trời” nếu có thể hiểu rộng hơn, chúng ta thấy tương hợp phần nào với chữ nghiệp trong quan niệm nhà Phật và đó là tư tưởng Phật học được Nguyễn Du tiên sinh đưa vào Đoạn Trường Tân Thanh. Dĩ nhiên, ở một cấp độ nào đó, giữa đạo Phật và chữ Nghiệp, đạo Nho với chữ Mệnh và Lăo gia với chữ Đạo chỉ gần nhau ở một vài điểm nào đó mà thôi. Cuối cùng, đạo Phật lại đầy đủ tư thế để được Tố Như chọn làm câu trả lời cho sự đối chọi, xung khắc của  định luật “tài mệnh tương đố”. Và đương nhiên, quan niệm Phật học trong Đoạn Trường Tân Thanh đă khoác màu sắc có sự khác biệt so với quan niệm có tính cách nguyên thủy mà chúng ta sẽ đề cập rơ hơn về sau. Nói khác đi với quan niệm “vô phân biệt” của thiền đạo chủ trương, chúng ta mới có thể đạt đến cảnh giới thanh tịnh; để từ đó mới thấy rơ được đạo nằm trong sự b́nh thường. Giữa đạo gia và thiền gia đều nhắm về một cứu cánh duy nhất là chứng nghiệm được sự huyền diệu của đạo mà đạo đây chính là cái tâm theo thuật ngữ của thiền gia. “Tri thường viết minh”[4] hay “minh tâm kiến tánh” đều nói về một thực tại duy nhất. Và “thực tại” th́ không c̣n phân biệt đây là thực tại đạo gia, kia là thực tại thiền gia nữa, cũng như khi xét định về chữ tâm của Nho gia vậy.
 


[1] Lăo Tử, Đạo Đức kinh, bản dịch Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Khai Trí XB, Sài G̣n, 1961, chương 77.

[2] Lăo Tử, S.đ.d. Chương 73, chương 1.

[3] Lăo Tử, S.đ.d. Chương 58, chương 16.

[4] Lăo Tử, S.đ.d, chương 16.

 

 

Đọc Kỳ 14

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com