trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

PHẦN HAI 

 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH


 

 

Mục 4

 

TẺ VUI CŨNG MỘT KIẾP NGƯỜI

 

 

Thêm vào đó, đă có Tài ắt phải có Mệnh và nói một cách rộng răi hơn là đă có Thân ắt phải có Nghiệp. Nghiệp với thân gắn liền với nhau một cách chặt chẽ, gắn bó theo định luật nhân quả. Bởi vậy, rất nhiều lần con người “thông minh” như Kiều đă hơn kẻ khác là sớm giác ngộ và thấy rơ phần nào số kiếp của ḿnh:

 

“Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân    (c.1190) 

  Tiếc thay trong giá trắng ngần

  Đến phong trần cũng phong trần như ai

  Tẻ vui cũng một kiếp người

 

Trong những lúc “ngẩn ngơ trăm nổi, giùi mài một thân” hoặc sau những khi “vui là vui gượng kẻo là” (c. 1247), Kiều đă thấy được một cách bất chợt cả một kiếp đoạn trường trầm luân của ḿnh:

 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh                  (c. 1233)

 Giật ḿnh, ḿnh lại thương ḿnh xót xa.”

 

Giá trị của Đoạn Trường Tân Thanh và ư nghĩa của đời sống cũng chính ở điểm này. Nói khác hơn, nàng Kiều là một biểu tượng cho thân phận con người đă vượt lên khỏi sự tầm thường ở chỗ đă quay trở lại nh́n nhận nghiệp thân của ḿnh và đă tỉnh thức trước số mệnh, trước mệnh trời. Nỗ lực của Kiều, tài trí của nàng tuy không thay đổi tức khắc cái nghiệp của ḿnh, nhưng có giá trị đào luyện tâm thức của ḿnh. Mạnh Tử đă cho rằng: “Chỉ có những người cô thần, nghiệt tử lúc nào cũng đối mặt với sự hiểm nguy cùng với ḷng dạ suy nghĩ sâu xa mới đạt được lư lẽ trời đất” (Tận Tâm - Thượng). Trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh, nàng Kiều đă lao vào chốn trầm luân khổ ải nên mới có thể đạt đến một tâm thức b́nh yên sau này. Một cách tương tự đạo Phật thường vẫn quan niệm như thế nhất là trong đường lối của Đại thừa giáo. Vả lại, dù muốn, dù không muốn, phủ nhận hay chấp nhận, chúng ta đều nhận chân cuộc đời đầy rẫy sự khổ đau không thể chối từ được. Nhưng từ sự khổ đau ấy nếu biết vươn lên, vượt thắng chính cơi ḷng ḿnh, con người sẽ đạt đến giải thoát trong một nghĩa b́nh thường nhất của thuật ngữ này. Cuộc đời Thúy Kiều là một chứng minh và thử thách trước bổn nghiệp. Kẻ nào không nghiệm, không trải qua sự khổ sẽ không bao giờ thoát được chính sự khổ. Và thoát được nghiệp bằng cách chấp nhận,thấy rơ được số kiếp và mọi nỗi ràng buộc nó. Khi ư thức được : “tẻ vui cũng một kiếp người” nàng Kiều dễ dàng chấp nhận mọi nỗi xót xa, cay đắng của mệnh trời, của kiếp người. Bên cạnh đó, ít nhiều nàng cũng nhận chân được nghiệp quả của ḿnh:    

 

“Kiếp xưa đă vụng đường tu                   (c. 1195)

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”

 

Và muốn được xuôi nàng đành buông thả cho sự đưa đẩy v́ nàng muốn thoát khỏi cũng không được. Suzuki, một học giả danh tiếng về thin học đă nhận định:

 

“Khi đủ điều kiện, khi cơ duyên chín muồi th́ một sự xảy ra bất chấp cả người trong cuộc. Mặt trời mọc là chiếu sáng tất cả cái tốt cũng như cái xấu. Cũng vậy, luật nhân quả tác động cho mọi người, người tỉnh cũng như người mê. Bản thể của luật là vậy ngự trị cả thế giới đạo đức cũng như vật lư”. [1]

 

Điều đó cho thấy ư nghĩa của Thiên mệnh, của số kiếp (Ngẫm hay muôn sự tại trời). Xét dưới khía cạnh đó, ít nhiều đạo Nho và đạo Phật đă có những điểm tương hợp. Mệnh trời hay nghiệp duyên đều đặt để con người vào ṿng quay, vào màn lưới của nó. Tuy nhiên, một khi con người thực hiện được điều thiện, gây được nghiệp nhân tốt sẽ có thể thay đổi được mệnh trời (Duy mệnh bất vu thường - Đại Học, XI), đổi được nghiệp quả.

 

Mặt khác, đă là người th́ không thể thoát khỏi được nghiệp: “trời kia bắt phải làm người có thân” và có thân nghĩa là làm người, nghĩa là phải mắc vào ṿng nghiệp duyên, v́ chính ta là nghiệp. Điều quan yếu là cần phải ư thức, hiểu biết về nghiệp thân đang đè nén trên cuộc đời ḿnh để từ đó vươn lên. Suzuki trong tác phẩm đă cũng chân nhận:

 

“Không những nghiệp gói tṛn lấy ta mà tự ta, ta c̣n nhận biết được. Hơn nữa, ta c̣n có thể nói chính ta là nghiệp, nghiệp tức là ta. Chúng ta đều ư thức thực trạng ấy; và chính nghiệp thức ấy là một đặc ân tâm linh của con người. Đặc ân ấy bao gồm sự tự do, vậy con người có thể thoát nghiệp. Nhưng ta cần nhớ tự do và thoát ly đèo theo trách nhiệm và chiến đấu. Và chiến đấu nhằm tự do gọi là đau khổ. Đời sống con người được đánh giá bằng khả năng đau khổ ấy. Thiếu khả năng đau khổ ấy nung nấu từ ư thức nghiệp chướng, th́ không đâu có đủ năng lực cần thiết để chứng ngộ, đưa đến cảnh giới vô sai biệt” [2]

 

Đây cũng là điều mà đạo Nho, nhất là Mạnh Tử đă đề cao. Có hoạn nạn, có khổ đau tâm thức con người mới được mở rộng, để từ đó khai sáng được cơi ḷng ḿnh nghĩa là chứng đắc, tỏ ngộ được cái Tâm của ḷng ḿnh vậy.   


 

[1] Daset Z. Teitaro Suzuki, Cốt tủy của đạo Phật, bản dịch Trúc Thiên, Sài G̣n, An Tiêm TB lần 2, 1971, tr. 75.

[2] Daset Z. Teitaro Suzuki, Sđd, tr. 58 và 59.

 

 

Đọc Kỳ 11

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com