trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


Ảnh Hưởng Đạo PHẬT
Trong

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Dương Anh Sơn
 

   

  

 

PHẦN HAI 

 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH


 

 

Mục 3

 

KHI NÊN TRỜI CŨNG CHIỀU NGƯỜI


      Tố Như tiên sinh cũng mượn lời Tam Hợp đạo cô để nói:

 

“Khi nên trời cũng chiều người” (c. 2689) cũng không ngoài ư nghĩa này. Thực vậy, đến lúc tái hợp với người xưa, dạo lại những cung bậc của chiếc hồ cầm gây duyên giữa nàng Kiều và chàng Kim, tiếng đàn đă “đầm ấm”, đă “dương ḥa”, đă “xôn xao” và “vui vầy”, khác hẳn những tiếng đàn bạc mệnh của những năm xưa cũ hay trong bước đường luân lạc phong trần. Kinh nghiệm đời sống với bao nhiêu hoạn nạn, khổ đau, gian hiểm mà Kiều chịu đựng là một hài học đắt giá để tạo được hạnh phúc và niềm vui thú cho đời nàng về sau. Đồng thời, muốn đạt được lư lẽ huyền vi của đời sống, sự từng trải, kinh nghiệm, luôn luôn cần thiết. Đạt đến, thấu rơ nó bằng vào sự khổ ải gian nguy của ḿnh, bài học đó mới có giá trị thực sự. Mạnh Tử há không khuyên các môn đệ :

 

“Nhân chi hữu đức tuệ thuật trí giả, hằng tồn hồ sấn tật. Độc cô thần, nghiệt tử, kỳ thao tâm dă nguy, kỳ lự hoạn dă thâm, cố đạt”

(Mạnh Tử - Tận Tâm Thượng)

 

人之有德慧術知者,恆存乎疢疾。獨孤臣,孽子,其操心也危,其慮患也深, 故達

                                            (孟子 盡心上)

 

(Người có đức, tuệ, thuật, trí thường là do khổ sở hoạn nạn mà có. Chỉ những kẻ cô thần, nghiệt tử lúc nào cũng cần giữ bên ḷng sự nguy hiểm, bụng dạ ḿnh thường lo nghĩ sâu xa, nên mới đạt đến lư lẽ trời đất).

Vả lại, ư thức được “tính trời” nhờ sự từng trải, khổ đau, Thúy Kiều mới chứng nhận được cơi ḷng của ḿnh sau khi đă đi đến tận cùng của phận người. 

 

Nguyễn Du đă cho thấy một tiến tŕnh biện chứng rơ rệt:

   

Đề: “Tẻ vui thôi cũng tính trời  biết sao  (c. 494)

Phản đề: “Tẻ vui cũng một kiếp người   (c. 1193)

Hợp đề: “Tẻ vui bởi tại ḷng này          (c. 3209)

 

Chúng ta cũng có thể thấy tương quan biện chứng đó dưới một h́nh thứ khác:

 

TÀI  à  MỆNH  à  TÂM  (à à )

 

Biết hết cái tâm ḿnh là biết hết cái tính của ḿnh và biết được cái tính của ḿnh là biết trời vậy (Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính giả. Tri kỳ tính tắc tri thiên hỹ - Mạnh Tử. Tận Tâm thượng). Thêm vào đó, chúng ta cũng nhận thấy Nho giáo từng chủ trương muốn xét đoán bất kỳ điều ǵ, trong đó có số mệnh con người cần phải ư thức, phải để cả tâm hồn trong sự việc hầu có thể thấy rơ nguồn cơn. Nếu kẻ nào:

 

“Tâm bất tại yên thị chi bất kiến”   (Đại học, VII)

           (大學)

 

Nghĩa là tấm ḷng không để ư vào công việc th́ có nh́n cũng không nhận thấy, không thể hiểu biết ǵ cả. Song ở đây, nàng Kiều đă nhiều lần ư thức được thân phận của ḿnh, nhất là sau khi nếm trải những đắng cay khổ nhọc: 

 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh              (c. 1233)

  Giật ḿnh nh́n lại thương ḿnh xót xa.”

 

Chính nhờ thế nàng mới nhận chân được thân phận của ḿnh cũng như nàng đă từng ít nhiều để tâm hồn nh́n lại cái tính và cơi ḷng của ḿnh. Điểm hơn người của nàng Kiều cũng do bởi nàng thường xuyên nhận biết đời ḿnh và cả một mệnh số đang chi phối đời ḿnh. Đă bao lần nàng cố gắng thoát khỏi màng lưới đó nhưng nào thoát được. Điều quan trọng không phải là thoát khỏi lưới “thiên mệnh” nhưng phải tùy thuận thiên mệnh và thấy được thiên mệnh. Thấy được thiên mệnh do ở ḷng người mà ra.

 

Phải chăng khi chứng đắc sự thật “Cỗi nguồn cũng ở ḷng người mà ra” (c. 2656), giờ đây Kiều đă tạo được cho ḿnh một sự “trung ḥa” với chính ḿnh và cuộc đời, ḥa giải được một bên là “tính trời”, một bên là “kiếp người” với bao nỗi đoạn trường xót xa, khổ nhiều hơn vui hoặc có chăng chỉ là “vui gượng kẻo là”? (c. 1247)

 

Vả lại, đạo Nho cũng chủ trương người ta sống ở đời ngoài cái mệnh, cái tính c̣n có sự sống và sự chết. Tất cả bốn đặc chất này đều được lấy ra từ đạo Trời Đất, do trời đất biến hóa sinh ra:

 

“Phần ư đạo vị chi mệnh, h́nh ư tính nhất vị chi tính. Hóa ư âm dương tượng h́nh nhi phát vị chi sinh, hóa cùng số tận vị chi tử. Cố mệnh giả tính chi thí dă, tử giả sinh chi chung dă, hữu thỉ tắc tất hữu chung hỹ”.

(Khổng Tử gia ngữ: Bản mệnh giải, XXVI) [1]

 

分於道謂之命,形於性一謂之性,化於陰陽象形而發謂之生,化窮數盡謂之死。故命者性之始也,死者生之終夜,有始則必有終矣。

 

(Chia một phần ở trong đạo tự nhiên của trời đất ra gọi là mệnh, ở cái lư nhất quán ai cũng như ai gọi là tính, biến hoá ở âm dương mà thành ra có tượng có h́nh gọi là sinh, hóa đến cùng, số hết, gọi là tử. Cho nên mệnh là cái bắt đầu của tính, tử là cái cuối cùng của sinh, có cái bắt đầu ắt có cái cuối cùng vậy).  

 

Chính v́ lẽ sinh hoá của trời đất như vậy nên Kiều trong tận cùng của sự sống đối mặt với cái chết (dương và âm) lại được tái sinh, được cứu vớt để bắt đầu lại một cuộc đời mới, chấm dứt số mệnh thương đau oan trái. Nếu tử là cuối cùng của sự sinh, là cái chết của cuộc sống đoạn trường mà Kiều t́m tới th́ trong sự tử tất phải có sự sinh theo lẽ biến hóa của trời đất của âm dương: SINH - TỬ - SINH. Dĩ nhiên, Kiều đă từ cái cuối cùng, uống cạn ly rượu đời ḿnh, nàng mới có thể từ trong sự chết để lại bắt đầu đời sống mới: “cùng tắc biến” (Kinh Dịch), đó là lẽ huyền vi của đạo trời đất tự nhiên:

 

“Đời người đến thế th́ thôi,

Trong cơn âm cực, dương hồi khôn hay”(c. 2645)

 

Cuộc đời của Kiều được như thế cũng do “công đức” của chính ḿnh đă gieo rắc, đă đem cơi ḷng của ḿnh xây đắp mà nên. Khi Tố Như tiên sinh viết: “tâm thành đă thấu đến trời” (c. 2717) th́ đức thành đó là do chính Kiều đă sống hết ḷng thành thật của ḿnh để báo đáp công cha hay đă cứu giúp nhiều nhân mạng khỏi cuộc chinh chiến mà “đống xương vô định đă cao bằng đầu” (c. 2494). Nếu hiểu một cách rộng răi ư niệm Trời và ư niệm Đạo của đạo Nho thật ra chỉ là một mà thôi. Do đó, nhờ tấm ḷng thành của chính ḿnh, Kiều đă được cứu khỏi bước phong trần, và cũng nhờ “tâm thành” nên Kiều đă được ông Trời thương xót, đă “thấu đến trời” và hiểu rơ được lẽ đạo, lẽ sống. Sách Trung Dung đă cho thấy:

 

“Thành giả tự thành dă, nhi đạo tự đạo dă”

(Chương 25)
 

 誠 者 自成 也,而 道 自 道 也。

(Việc ǵ muốn thành công th́ tự ḿnh phải thành tâm, đường đi (đạo) cũng do tự ḿnh mà ra)

 

Tâm thành của Kiều là thành tựu do nỗ lực vượt trội  “thấu đến” trời cao, đạt đến được đạo và cũng  chính do “đức dày” (c. 2715) của nàng mà thôi.

 

Mặt khác, Đạo Trời và Đạo Người cũng lại là một, Kiều đă đem hết cuộc đời của ḿnh để giữ vẹn đạo làm người khi thể hiện đức hiếu, trung, nghĩa, tín để báo đáp công ơn sinh thành, trung nghĩa với t́nh quân, và giữ chữ tín với Kim Trọng. Đây cũng chính là điều kiện để vận mệnh đời nàng được đổi thay nhờ vào nỗ lực của riêng nàng, đă biết xử kỷ tiếp vật, đă biết hành xử sao cho phải đạo.

“Thành giả thiên chi đạo dă,

thành chi giả nhân chi đạo dă”.

(Trung Dung - chương 20)   

誠 者 天 之 道 也,

誠 之 者 人 之 道 也。

                                                (中庸)

Đức thành là đạo của Trời, giữ ǵn hoàn tất được đức thành ấy lại là đạo của người. Do đó, mọi cố gắng vươn lên hành xử đúng đạo nghĩa của Kiều là do ở công lao của chính nàng. Giá trị thực sự của đời Kiều nên được xét đoán, đánh giá cũng do ở cố gắng và ở nỗ lực vươn lên vượt thoát này. Ông Trời ở đây không sai khiến ai, không đe dọa hay ban thưởng cho ai cả. Há Khổng Tử đă không nhắc nhở chúng ta:

“Thiên hà ngôn tai.

Tứ thời hành yên,

bách vật sinh yên.

Thiên hà ngôn tai.”

(Luận Ngữ - Dương Hóa, XVIII) 

 

天 何 言 哉

四 時 行 焉

百 物 生 焉

天 何 言 哉

 

Trời có nói ǵ đâu,

Trăm vật sinh nở, bốn mùa 

Biến hóa đều do chính nó

Trời có nói ǵ đâu!

Ngoài ra, khi nói về sự tử hiểu theo nghĩa chấm dứt một cuộc đời, một “kiếp người”, Nguyễn Du tiên sinh cũng đă viết: 

 

“Thác là thể phách c̣n là tinh anh”.        (c. 116)

 

Nói khác đi, tiên sinh cũng quan niệm một khi người ta chết rồi không phải là hết, nhưng vẫn c̣n cái thần hồn tồn tại trong vũ trụ, trong không gian. Do đó, nếu những người chết sinh thời là “những đấng tài hoa” hơn người th́ phần ‘tinh anh” c̣n lại ấy càng “hiển linh”, sáng rơ hơn nữa. Đạo Nho cũng đă chủ trương: “Tử tất qui thổ, cốt nhục tê ư hạ, âm vi dă thổ, kỳ khí phát dương ư thượng vi chiêu minh”. (Lễ kư – tế nghĩa, XXIV). Chết tức là quay trở về với đất cát, xương thịt tuy bị tan nát dần, nhưng cái thần hồn thần khí vẫn c̣n trên cơi đời ở nơi sáng rơ cao khiết. Và đây cũng là điều rất tương hợp với thuyết lư nhà Phật vậy. 

*

*    *

 

Thật vậy, thuyết lư nhà Phật mà Nguyễn Du tiên sinh đưa vào trong Truyện Kiều mặc dầu đă pha trộn rất nhiều những nguồn ảnh hưởng khác từ quan niệm của giới b́nh dân cho đến những tư tưởng quan trọng khác như đạo Nho, đạo Lăo, nhưng không v́ thế mà mất hẳn những nét độc đáo, riêng biệt của nó.

 

Cũng như ảnh hưởng Nho giáo đă thay đổi, biến thái khi được đưa vào Đoạn Trường Tân Thanh, tư tưởng đạo Phật ở đây cũng khoác một sắc thái đặc biệt hơn để có thể dung hợp với quan niệm nhà Nho. Thông thường, các nhà biên khảo chỉ xét riêng từng loại ảnh hưởng của Nho và Phật, và đôi khi đi đến kết luận là hai luồng tư tưởng ấy mâu thuẫn nhau. Song nếu xét kỹ trên mặt lư thuyết, cũng như riêng với Truyện Kiều, cả hai đều nhằm tới cùng một đích điểm, cùng hướng về chữ “Tâm”, như chúng ta đă phác họa bên trên. Dĩ nhiên, tuy cùng nhắm về một hướng đi, nhưng mỗi bên đều giữ được tính chất riêng biệt của ḿnh đúng như tinh thần mà Khổng Phu Tử nhắc nhở: 

 

“Quân tử ḥa nhi bất đồng, cường tai kiểu”

君 子 和 而 不 同,強 哉 矯 中庸 二

 

(Người quân tử sống ḥa hợp với người chung quanh tuy bất đồng ư kiến, v́ ḿnh đă vượt lên trên rồi - Trung Dung, 2).

 

Và nếu đă ḥa hợp ở cấp bậc thấp (theo lối h́nh nhi hạ), th́ cấp bậc cao hơn (h́nh nhi thượng), cả hai đạo Nho và Phật vẫn ḥa điệu với nhau, dù rằng tự bản chất nó có sự cấu tạo khác nhau. Phải chăng đó mới chính là yếu tính của chân lư nghĩa là nơi gặp gỡ của mọi dị biệt tư tưởng? Xét trong Truyện Kiều, quả thật Nguyễn Du đă ít nhiều cho thấy điều này, song lối giải quyết của ông được đặt ở một tư thái mà ảnh hưởng của đạo Phật vượt trội lên trên, dù một vài điểm căn bản của nó được rút ra từ đạo Nho. Trước hết, như đă từng đề cập, nh́n từ nhăn quan Nho gia th́ số mệnh, thân phận của nàng Kiều chẳng qua là do trời xanh hay thiên mệnh định đoạt bên cạnh bản tính cố hữu của chính nàng. Một cách tương hợp, thay v́ qui kết số phận Thúy Kiều hoàn toàn do thiên mệnh, hoặc “muôn sự tại trời”, Nguyễn Du đă đưa vào đó những nguyên lư về Nghiệp (Karma) và Luân hồi, trong đó có luật Nhân quả. Theo đó, cuộc đời khổ ải ba ch́m bảy nổi của Kiều là do cái nghiệp mà nàng đă gây ra từ kiếp trước. Nói khác hơn, cuộc đời phong trần của nàng chỉ là hậu quả mà nàng phải gánh chịu do gây nhân từ trước. Trong quan điểm thông thường của đạo Phật, Nghiệp là một thứ nguyên lư vắng “cái ngă”, nghĩa là nó không có người tác tạo gây nhân và cũng không có người nhận chịu nếm quả. Tất cả đều do các uẩn chuyển biến hiện thành, kết hợp hoặc tan biến mà ra, cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh; cái này không nên cái kia không; cái này diệt nên cái kia diệt. Thành thử, nghiệp và luân hồi tương thông với nhau theo định luật nhân quả và tất cả đều nằm trong ṿng sinh hóa của các nhân duyên. Giữa ḍng sinh hóa ấy “cái ngă” của kiếp trước và kiếp sau không giống nhau, mặc dầu định luật nhân quả cho rằng gieo nhân nào th́ gặt quả nấy. Nhân và quả cũng chỉ là sự kết hợp giữa các uẩn, sự hiện diện của “cái ta” hầu như không được giáo lư đề cập đến. Đưa ra sự kiện này để từ đó chúng ta nhận thấy rằng ảnh hưởng tư tưởng đạo Phật trong Kiều đă biến thái khá nhiều so với quan niệm của đạo Phật nguyên thủy.

 

Mặt khác, khi đề cập đến thuyết luân hồi và nhân quả của đạo Phật trong Truyện Kiều, Nguyễn Du vẫn thường mượn cách nghĩ của dân gian được truyền lại từ lâu:    

 

“Kiếp xưa đă vụng đường tu,   (c. 1195)

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”.

 

Hoặc:

 

“Biết bao duyên nợ thề bồi,      (c.705)

Kiếp này thôi thế th́ thôi c̣n ǵ?

Tái sinh chưa dứt hương thề,

Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai”.

 

Nghĩa t́nh trong “kiếp này” không đền đáp được, phải đợi đến lúc “tái sinh” ở kiếp sau. Và khi luân chuyển qua một kiếp khác có khi vẫn làm người và cũng có khi phải “làm thân trâu ngựa”. Đó là một quan niệm về luân hồi rất phổ biến ở Ấn Độ và sau này ở các vùng ảnh hưởng của nền văn hóa ấy như Trung Hoa, Việt Nam ...

 

Nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh được mô tả là nhân vật “thông minh vốn sẵn tính trời”, nhưng trời xanh đă dành sẵn cho nàng một số kiếp long đong và không ai có thể tránh khỏi được màn lưới đó. Nếu trời đất ban cho nàng sự tài hoa, thông minh hơn người th́ nàng cũng không nhờ đó để tránh khỏi thân phận đặt để cho ḿnh mà đạo Phật gọi là Nghiệp. Trong phần trên đây, chúng ta thấy tư tưởng đạo Nho nằm ở tư thế biện chứng ba nhịp theo tiến tŕnh câu chuyện:

 

TÀI  à  MỆNH  à  TÂM 
         (à      à )

 

Một cách tương hợp. chúng ta cũng thấy tiến tŕnh biện chứng này đă được Nguyễn Du tiên sinh dẫn dắt với những quan niệm về đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh.

 

THÂN à NGHIỆP à TÂM 

     ( à        à )

 

Tiến tŕnh biện chứng này chẳng qua chỉ là cách thức giải quyết những mối tương tranh của Tài và Mệnh hoặc Thân và Nghiệp. Ở đây, Nguyễn Du đă cho thấy vai tṛ của toàn thể thân phận con người khi tiên sinh kết luận:

 

“Trời kia đă bắt làm người có thân”     (c. 3242)

 

Chữ “Thân” ở đây mang một ư nghĩa rộng răi hơn chữ “Tài” ... có tài hay không có tài rốt cùng cũng phải chấp nhận điều kiện “ hữu thân, hữu khổ”. Con người tài trí thông minh như Kiều cũng không thoát ra khỏi định luật đó. Đă bao lâu nàng hết sức vùng vẫy, cố gắng thoát khỏi màn lưới của một  thân phận đắng cay, chịu bao nỗi dày ṿ đày đọa. Hơn thế nữa, nhiều cô gái khi vào lầu xanh, vào cơi phong trần đă chấp nhận: “cũng liều nhắm mắt đưa chân” song với Thúy Kiều, nàng đă dám nh́n thẳng vào số kiếp, vào thân phận của ḿnh để “xem con tạo xoay vần đến đâu” (c. 1116). Nàng đă ư thức được hơn bất cứ ai trong kiếp phong trần về thân phận khổ đau của ḿnh. Chính lúc đó cái Tài hay sự “Thông minh vốn sẵn tính trời” của nàng mới được thi thố, và sự hơn người của Thúy Kiều cũng ở điểm này.

 

Thật vậy, ngay từ đầu câu chuyện, Tố Như đă giới thiệu nàng Kiều với bao nét độc đáo, tài t́nh. Nhưng Kiều đă sớm ư thức, sớm nhận biết được bản tính của ḿnh:

 

“Rằng: Quen mất nết đi rồi,

Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao”.     (c. 494) 

 

Khi phát biểu “Quen mất nết đi rồi” , tiên sinh cho thấy nàng Kiều ư thức được ḿnh đă đánh mất cái tính uyên nguyên thuở nào. Cái “nết” ở đây có thể nói là “Thiên mệnh chi vị tính” của đạo Nho hay Phật tính trong đạo Phật mà Kiều đă để nó khuất lấp, mờ nhạt do số kiếp hay thân nghiệp mà nàng đang trói buộc.    

 

Theo nghĩa thông thường, chữ “nết” là từ ngữ dùng để chỉ tính t́nh của con người. Tục ngữ thường có những câu như: “cái nết đánh chết cái đẹp” hoặc “Đánh chết mà nết không chừa”.v.v... đều nói về nhân cách hoặc bản tính của mỗi cá nhân. Nhưng ở đây, nếu chúng ta hiểu chữ “mất nết” có nghĩa như chữ “thành nếp” dùng để chỉ tập quán hay thói quen của con người th́ ư nghĩa của câu thơ lại khác. Tục ngữ cũng chỉ cho chúng ta thấy điều này khi phát biểu: “Con nhà nề nếp”. Đây là thành ngữ để nói về con cái của những gia đ́nh có truyền thống cố hữu, có khuôn thước theo những tập quán từ trước mà cha ông họ lưu truyền. Thành thử khi Tố Như tiên sinh hạ bút “Quen mất nết” th́ câu thơ bao hàm cả hai ư nghĩa: vừa dùng để chỉ một thói quen thành nếp (Quen mất nết) tức là thói quen đă trở nên một thứ bản tính, đúng hơn một thứ bản năng ngụ trong tính t́nh của Thúy Kiều; đồng thời vừa có nghĩa là những thói quen của cái “nếp” này đă làm mất mát. khuất lấp cái “nết” của con người sẵn có.

 

Mặt khác, nếu chỉ xét định lẻ tẻ từng câu, chúng ta khó thấy ư nghĩa toàn bộ. Cả hai câu thơ này có liên hệ chặt chẽ nói về cái Tính của Kiều: câu trên mang ư nghĩa chữ Tánh trong nhà Phật, c̣n câu dưới rất gần với ư nghĩa chữ Tính của đạo Nho. Nếu vượt lên trên từ ngữ, chúng ta thấy hai câu thơ này đều nói về “mệnh” hoặc “nghiệp” đang chi phối Kiều cả. Tuy nhiên, nếu xét kỹ, chúng ta cũng nhận thấy từ ngữ “tẻ vui”, “mất nết” có âm hưởng nhà Phật nhiều hơn. Chữ  “tẻ vui” nói rộng ra là tính chất “vô thường” của đời sống và những chặng đường “gió táp, mưa sa” sẽ giúp được Kiều dần dần hiểu được, “ngộ” ra: “muôn sự tại trời” (c. 3241), nhưng “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” (c. 420) và như lời sư Tam Hợp đă xác tín “Phúc họa đạo trời, Cỗi nguồn cũng ở ḷng người mà ra, Có trời mà cũng tại ta” ... (c. 2655-2657).  

 

Sau này, khi tái hợp với Kim Trọng, nàng đă t́m lại được “nết” cũ của ḿnh đến nỗi chàng Kim phải biểu lộ sự tôn kính cua ḿnh khi nói “Gương trong chẳng chút bụi trần”. Và chính nàng cũng nhận thấy điều đó khi phát biểu: “Thân tàn gạn đục khơi trong”. – “Gương trong” hoặc “Khơi trong” chính là bản tính cố hữu của nàng Kiều và cũng là biểu tượng của Huệ Năng lẫn Thần Tú trong quan niệm về Thiền đạo ở Trung Hoa (Minh kính diệc phi đài - Tâm như minh kính đài). Nói khác đi, đó cũng là cái Tính, cái “bản lai diện mục” mà  Kiều đă thức ngộ được sau bao lần t́m kiếm và hiểu biết nhiều về nó. Chỉ đến lúc đạt đến cái Tính nàng mới trả lời được câu hỏi về số kiếp của ḿnh.  


 

[1] Trần Trọng Kim, Nho giáo, Bộ Giáo Dục XB, Q.1, Sài G̣n, 1971, tr.55

 

 

 

Đón đọc Kỳ 10

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com