www.ninh-hoa.com

Mười Ngày Trên Đất PHẬT:   1 2 3 4 5 6
Nhật kư hành tŕnh chiêm bái Phật tích
Mục Đồng


 




 

 
                                              
  1  2  

        Kỳ 3:  

Sáng sớm hôm sau, 31-5, đàn con hữu duyên lại ra đảnh lễ Đại tháp. Toàn cảnh Bồ Đề đạo tràng vào buổi mai lại hiện ra nguy nguy tráng lệ hơn. Ban đêm có nét đẹp trầm tĩnh của đêm, buổi sớm mai có nét tươi nhuận tinh nguyên và thanh tịnh của buổi sáng.

Chúng tôi lại tuần tự lễ Phật, nhiễu tháp và ngồi tĩnh toạ quanh cội Bồ Đề để tiếp tục chiêm nghiệm pháp lạc; sau đó đi quanh toàn khu vực để tham quan và ghi h́nh ảnh. Dọc quanh khu vực, các bảng hướng dẫn đă ghi ghép lại 7 tuần lễ sau khi thành Đạo của đức Phật như sau:

Tuần thứ nhất, đức Phật ngồi tại gốc cây Bồ Đề để nghiềm ngẫm giáo lư Duyên khởi, nhận chân thực tướng, nguyên nhân sinh diệt của các pháp.

Tuần thứ hai, đức Phật đứng im, nh́n chăm chú không nháy mắt vào cội Bồ Đề với ánh mắt tŕu mến, tri ân cây đă che chở. Tại vị trí này, một ngôi tháp nhỏ có h́nh thể giống Đại tháp được xây dựng để đánh dấu sự kiện lớn ấy. Tháp nằm phía bên trái về hướng đông bắc và bên trong tháp hiện tôn trí một bộ kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng Tây Tạng.

Tuần thứ ba, Ngài đi kinh hành dọc theo cây Bồ Đề, mỗi bước đi có một hoa sen hiện lên nâng bước chân Ngài. Khối đá Chankramenar phía bắc Đại tháp đánh dấu sự kiện này.

Tuần thứ tư, đức Phật ngồi thiền định, nghiền ngẫm giáo lư nhân quả. Ngôi đền nhỏ (không có mái che) nằm trong sân là nơi đánh dấu.

Tuần thứ năm, đức Phật ngồi dưới cây Ajapala để chứng nghiệm sự khinh an của giải thoát. Có một Bà-la-môn ngă mạn xuất hiện cật vấn, được đức Phật giảng giải thế nào là ư nghĩa thật sự của Bà-la-môn.

Tuần thứ sáu, đức Phật ngồi thiền bên hồ Mucalinda. Khi đó, trời bỗng mưa tầm tă, vua rồng Mucalinda hiện lên dùng thân che mưa cho Ngài.

Tuần thứ bảy, đức Phật ngồi thiền dưới cây Rajayatana. Có hai thương gia đến dâng thực phẩm cúng dường và phát nguyện quy y hai ngôi báu Phật và Pháp (lúc này chưa có Tăng).

Khu vực giữa Đại tháp và hồ Mucalinda là chứng tích trụ đá vua A Dục hiện đă bị găy mất đầu tượng sư tử, chỉ c̣n lại thân trụ. Ngoài ra, có vô số tháp nhỏ và vừa ở chung quanh làm nổi bậc sự uy nghi của Đại tháp. Những tháp này do các vua chúa, quan thần đă xây dựng để nhớ ơn đức Phật hoặc đánh dấu một sự kiện ǵ đó. Ngay trước cửa tháp, phía bên phải là một kiến trúc không phải của Phật giáo, đó là ngôi tháp thờ 5 pho tượng của thần Shiva. Người Ấn Độ giáo đă khôn khéo an trí tượng Phật bên trong để thu hút hương khách.

Rời Bồ Đề đạo tràng, chúng tôi đến thăm sông Ni Liên Thuyền (Nairanjana) cách Đại tháp 180m về phía đông, nơi mà đức Phật đă xuống tắm trước khi đến ngồi thiền dưới cội Bồ Đề. Vào mùa mưa, nước sông rất sâu và chảy mạnh, nhưng lúc này là giữa mùa hè, con sông chỉ là một băi cát dài thăm thẳm, có bề ngang khoảng 1km. Đứng bên này bờ nh́n qua, xa xa bên kia thấp thoáng ngôi làng của nàng Sujata, người đă dâng sữa cho Thái tử Tất-đạt-đa.

Buổi chiều, nhóm đă đi thăm viếng các chùa lân cận Bodhgaya, như: chùa Phật giáo Ấn Độ, hội Mahabodhi, chùa Trung Quốc, Taiwan, Tây Tạng, Thái Lan, Hàn Quốc, và đặc biệt là tượng Đại Phật bên cạnh chùa Nhật Bản. Tượng đài Phật Thích ca được làm bằng đá tảng ghép lại, theo nét mỹ thuật Nhật Bản. Tượng cao khoảng 14, 15 mét. Hai bên là tượng của 10 vị đại đệ tử đứng hầu với kích thước lớn gấp hai, ba lần người thường. Ngoài chùa Việt Nam Phật Quốc tự, Việt Nam c̣n có Trung Tâm tu học Viên Giác do Thượng toạ Thích Như Điển ở Đức thành lập và khánh thành năm 2002. Tất cả những ngôi chùa với nét nghệ thuật riêng của nước ḿnh đă tạo nên một sự hài ḥa sinh động làm rực rỡ thêm cho khu vực Bồ Đề đạo tràng này.


Trước Chùa Thái Lan

Ngày 01-6, một người trong nhóm có sự cố nhỏ về sức khoẻ nên nhóm đă ở lại chùa nghỉ ngơi. Đúng theo dự định, hôm nay chúng tôi sẽ tham quan nơi người nông phu dâng cỏ, di tích nền nhà của ngài Ca Diếp và chiêm bái Khổ Hạnh Lâm. Không đi để thấy th́ phải nghe cho biết, nên chúng tôi yêu cầu vị trưởng đoàn tŕnh bày lại như sau: Vượt sông Ni Liên Thuyền, đi xe khoảng 30 phút về hướng Gaya, rồi đi bộ khoảng một giờ nữa sẽ gặp ngọn đồi Pragbodhi, nơi mà Thái tử đă rời bỏ năm người bạn đồng tu. Ngọn đồi ngày nay có tên là Dhongra, cách làng Bakraur khoảng 1,6 km về hướng đông bắc, dọc theo sông Ni Liên. Trong quá tŕnh 6 năm khổ hạnh, Thái tử cư trú trong một hang động tên là Dungeswari. Tương truyền nơi hang động này, đức Phật đă từ bỏ sau khi chư thiên cho biết đây không phải là nơi để thị hiện thành Đạo. Trên ngọn đồi hiện nay có một ngôi chùa Tây Tạng, là nơi du khách được nghỉ chân và dùng trà của các sư rất thoải mái sau khi leo lên một quăng đồi mệt mỏi.

5 giờ sáng ngày 02-6, chúng tôi khởi hành đi Vương Xá. Hôm nay, không khí trong lành, thời tiết trở nên mát dịu sau một cơn mưa. Đường lên núi Thứu được lát bằng những nấc thang đá phẳng, thỉnh thoảng có chỗ dừng chân, nhưng nhóm chúng tôi không cảm thấy mệt mỏi chút nào để phải dừng lại. Sau khi băng qua cầu Linh Thứu nho nhỏ, duyên dáng (đánh dấu nơi vua Tần-bà-sa-la xuống ngựa, đích thân đi bộ lên thăm đức Phật), chúng tôi đến hang động của tôn giả A-nan. Đi thêm một đoạn nữa, lên đến khúc quanh là động của ngài Xá-lợi-phất, vị đại đệ tử trí tuệ bậc nhất của đức Phật. Từ động này, đi dọc theo con đường đá uốn khúc bằng những nấc cầu thang, ta sẽ đi ngang mơm đá h́nh đầu một con chim mỏ nhọn, mặt hơi ngước lên, có lẽ v́ mơm đá này mà đồi có tên là Linh Thứu. Trên đỉnh đồi là Hương pḥng của đức Phật. Nơi đây lúc nào cũng nghi ngút khói hương của Phật tử dâng cúng và ướp đầy hương thơm tuệ giác của đức Phật, nên gọi là Hương pḥng.


Đường lên núi Linh Thứu

Từ đây nh́n qua bên ngọn đồi bên kia, ngọn tháp hoà b́nh vươn lên trong nắng mai và ngôi chùa Nhật Bản c̣n ẩn hiện cận kề.

Trong khi mọi người c̣n đang chụp ảnh ở dưới, tôi đă tranh thủ trước hết lên đảnh lễ và đi nhiễu quanh Hương thất đức Phật. T́m một mơm đá bằng phẳng, nh́n xuống dưới là rừng cây và đồng bằng bao la xanh ngát, gió thổi nhè nhẹ, tôi ngồi ngay ngắn, lắng đọng tâm tư, trầm tư về ân đức của đấng Từ Phụ, rồi thầm tụng bài tựa và 5 đệ chú Lăng Nghiêm. Được biết, khi ngài Pháp Hiển đến đây, ngài đă tụng trọn bộ kinh Lăng Nghiêm; c̣n ngài Huyền Trang th́ tụng trọn bộ kinh Pháp Hoa. Sau đó, mọi người cùng tập trung lễ Phật, đi nhiễu và ghi lại h́nh ảnh bên cạnh người cha lành từ lâu xa cách mới trùng phùng.

Rời núi Linh Thứu, chúng tôi tiếp tục đi động Thất Diệp, nơi diễn ra kỳ kiết tập kinh điển lần đầu tiên sau khi đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Trên đường đi, xe có dừng chân tại nơi ngục giam B́nh Sa Vương (vua Bimbasara). Theo lịch sử, vua A-xà-thế v́ mưu đồ đoạt ngôi nên đă bắt giam vua cha theo lời xúi dục của Đề-bà-đạt-đa. Vốn hết ḷng tôn kính Như Lai và sùng mộ Phật Pháp, nên theo yêu cầu của vua Bimasara, cửa sổ ngục giam hướng về hương thất của đức Phật để vua được hằng ngày nh́n lên chiêm ngưỡng Ngài đi kinh hành. Ngày nay, di tích chỉ c̣n lại nền móng vuông xây đá, đứng đây, ta nh́n lên có thể thấy được hương thất của đức Phật trên đỉnh Linh Thứu.


Đường lên núi Linh Thứu

Mặt trời càng đứng bóng, thời tiết nóng lên dần, chúng tôi bắt đầu leo lên núi để đến động Thất Diệp. Con đường đi lên được làm bằng đá rất kiên cố và khá đẹp mắt, không gồ ghề lắm nhưng khá xa và cao. Lên càng cao, nh́n càng rơ bốn phía, có nhiều ngọn núi khác và đền đài của Ấn Độ giáo với khách hành hương đi nườm nượp. Lên tới đỉnh núi Baibhara là ngôi đền Adinatha hiện đại của đạo loă thể toạ lạc. Rẽ bên phải, con đường đá tiếp tục dẫn xuống cửa động. Bốn trong sáu hang động c̣n trong t́nh trạng vững chắc. Những tàn tích bức tường hang đá cho thấy nó được cấu tạo bằng những tảng đá chồng lên nhau, không có hồ vữa. Cửa động ngày nay gần bị bít lại, rất khó đi vào trong. Trong động này đă chứa 500 vị Tăng trong kỳ kiết tập thứ nhất dưới sự chủ tŕ của tôn giả Ca Diếp. Nơi đây cũng có ngôi tháp kỷ niệm sự kiện ngài A Nan đă chứng quả vào đêm trước kỳ kiết tập khai mạc và ngôi tháp của vua A Dục dựng để đánh dấu sự kiện kiết tập, nhưng chúng tôi lần đầu đi chiêm bái nên không t́m thấy.

 

(Xem tiếp kỳ 4)


Mục Đồng
 


 

Trang Văn Thơ: Trần Thanh Thiên

                                                     4 


                                           1  2  3  

Kỳ 4:     


Trước cửa động Thất Diệp

Sau đó, chúng tôi đến Trúc Lâm tịnh xá. Nơi đây là một vườn trúc xanh tươi. Những khóm trúc được chăm sóc chu đáo nên rất sum suê, rậm rạp. Ngày xưa, đây là vườn thượng uyển của vua Tần-bà-sa-la đă cúng cho đức Phật. Trong vườn, có một hồ nước để chư Tăng tắm giặt và di tích tháp tưởng niệm đức Mục Kiền Liên.

Rời Trúc Lâm, chiếc xe tatasumo tiếp tục đưa “đoàn chiêm bái" đến trường đại học Na Lan Đà. Con đường từ cổng đi vào được lát đá rất đẹp giữa hai hàng cây cao lớn tỏa bóng rất mát mẻ. Nh́n quanh, toàn bộ sân được trồng cỏ, vẽ nên một tấm thảm màu xanh trông thật mát mắt. Sau khi dùng cơm trưa (như thường ngày, nấu mang theo) dưới cây Bồ Đề trong sân cỏ, nhóm bắt đầu đi vào tham quan bên trong. Xung quanh chúng tôi là những nền nhà to lớn, đồ sộ.

Tất cả kiến trúc ở đây đều xây bằng gạch nung đỏ. Nổi lên cao nhất là một ngôi tháp cũng bằng gạch nung đỏ được cho là ngôi tháp tưởng niệm tôn giả Xá Lợi Phất. Chỉ nh́n chu vi bề rộng của những nền mống, chúng ta có thể tưởng tượng phạm vi to lớn của học viện thuở xưa. Đây là viện đại học Phật Giáo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ, có tầm cở quốc tế cả về chất và lượng. Đây cũng là quê hương của hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, hai vị đệ tử thượng thủ của đức Phật.

Lịch sử Ấn Độ th́ rơ ràng là rất khó xác định. Nhưng có thể nói, Na Lan Đà đă có mặt trong thời kỳ đức Phật c̣n tại thế, dĩ nhiên là tồn tại ở dạng khác. Đại học Na Lan Đà là một ngôi trường to lớn và vô cùng nghiêm mật. Các thí sinh muốn vào đây học đều phải trải qua nhiều kỳ khảo hạch rất nghiêm ngặt. Kỹ thuật biện chứng cũng đă phát minh từ đây và đă trở thành một pháp môn tư duy các triết lư rất hữu hiệu. Được học tại Na Lan Đà là một vinh hạnh lớn thời bấy giờ.

Tăng sinh không những học tập kinh điển mà c̣n phải thực hành những nghi lễ tôn giáo và các pháp thiền định. Một trong những phương pháp học tập là biện luận, các Tăng sinh phải tranh luận nhau các vấn đề trong tinh thần khiêm cung. Khi ngài Huyền Trang đến đây, Hoà thượng Giới Hiền đương kim viện chủ. Sau khi hành hương các thánh tích khắp Ấn Độ, ngài Huyền Trang đă lưu lại học tập tại Na Lan Đà, ngài thông suốt tất cả giáo lư. Tiếng tăm Ngài vang xa cả trong và ngoài nước.


Đường vào Đại Học Na Lan Đà

Na Lan Đà đă trải qua những thời kỳ hưng thịnh với sự ủng hộ nhiệt t́nh của các triều đại vua chúa, như Gupta, Harsa, Pala… Sự tiêu diệt của Na Lan Đà đồng thời với sự biến mất của Phật Giáo tại Ấn Độ do quân đội Hồi giáo gây ra vào thế kỷ XII. Lănh đạo cuộc tàn sát và tiêu huỷ Na Lan Đà là Mohammed Bakhtiyar Khilzi. Năm 1915, 16, bộ Khảo cổ học Ấn Độ đă thực hiện công cuộc khai quật có hệ thống toàn bộ khực này và đưa ra ánh sáng. Na Lan Đà thời cổ đại đă đóng một vai tṛ quan trọng trong lĩnh vực tôn giáo, triết học, nghệ thuật và văn hoá không chỉ cho Ấn Độ mà cho cả vùng Đông Nam Á. Trước mắt chúng tôi chỉ là tàn tích nền móng nhưng cũng đủ cho thấy sự nguy nga, huy hoàng của Na Lan Đà xưa kia.


Nền móng Đại Học Na Lan Đà

2 giờ chiều, chúng tôi rời Na Lan Đà trở lại chùa Việt Nam, nghỉ lại đêm cuối cùng tại đây.

Ngày 03-6, trên đường đi Kushinagar, chúng tôi ghe qua chiêm bái các địa điểm Tháp Ḥa B́nh, nơi phân chia 8 phần xá lợi Phật, trụ đá vua A Dục nơi khỉ dâng mật cho đức Phật, nơi ghi nhận Ni chúng xuất gia. Mỗi nơi ghé qua tham quan, chiêm bái vài mươi phút. Trời nắng gắt, một số người bị đau đầu, không thể đi được phải nghỉ lại trong xe. Thức ăn làm sẵn mang theo, chúng tôi dùng bữa cơm trưa dọc đường rất vui và đậm nét dân dă. Chiếc xe cứ gập ghềnh, lắc lư, cuối cùng cũng đến chùa Linh Sơn – Kushinagar lúc 5 giờ chiều.

Chùa Linh Sơn có tên là Chinese Buddhist Temple là ngôi chùa đầu tiên và nằm phía tay trái trên đường về khu thánh địa Kushinagar. Chùa này nguyên trước kia của một Ni sư người Hoa và có tên là Song Lâm Tự, xây vào năm 1948-1950. Sau khi Ni sư viên tịch, chùa được bàn giao lại cho cố Hoà thượng Huyền Vi, viện chủ chùa Linh Sơn - Pháp Quốc và Hoà thượng đă cử Sư cô Trí Thuận quản lư. Chùa được trùng tu và tái tạo lại rất tốt, có tượng Quan Âm lộ thiên cao 2m trước sân, xung quanh có mô h́nh thánh tích Tứ Động Tâm và chùa cũng có nhiều pḥng nghỉ đầy đủ tiện nghi cho khách hành hương. Khi chúng tôi đến nơi, sư cô trụ tŕ đi vắng, chỉ có hai vị ni chúng tiếp đón và mời nhóm 6 người nghỉ trong gian pḥng rất rộng, chẳng khác ǵ khách sạn.

Sau một ngày đi đường mệt mỏi, bữa cơm chiều đậm màu quê hương do hai sư cô nấu đă bù đắp lại hơn "50 thành công lực", với các món hảo hạng như: đậu hủ kho xả, canh rau khoai, rau muống luột châm tương Huế, và các món phụ hoạ. Chư huynh đệ ngồi dùng cơm im lặng, an lạc, cứ tưởng ḿnh đang c̣n ở Huế. Buổi tối lại có một buổi thiền trà với mấy đĩa bánh ngon miệng do quư sư cô mời thật ấm áp, nhiều hỷ lạc.

Sáng ngày 04-6, trời đất thương t́nh, lại ban tặng cho một cơn mưa thật mát mẻ. Sau khi mưa tạnh, bầu trời quang đăng không nhuốm chút bụi trần, không khí trong lành, chúng tôi bắt đầu vân tập về tháp Niết Bàn để đảnh lễ nơi đức Phật nhập diệt.

Đi từ cổng chính không tới 100m sẽ thấy chùa Niết Bàn là thánh địa chính tại Kushinagar. Năm 1956, nhân dịp kỷ niệm 2500 năm đản sinh của đức Phật, chùa Niết Bàn được chính phủ Ấn Độ tái thiết với kiến trúc h́nh mái ṿm, có các cửa sổ lớn song sắt thông ra bốn phía. Tượng Phật với tư thế nằm nhập diệt được khám phá lần đầu tiên vào năm 1876, nhiều phần bệ bị bể và bị lạc mất. Tượng dài 6,1m được khắc đúc bằng một tảng sa thạch đỏ nguyên. Đây là biểu tượng h́nh ảnh đức Phật nhập diệt nằm nghiêng bên phải với mặt hướng về phương Tây. Tượng đặt trên một bệ gạch lớn với bốn trụ đá ở bốn góc.


Đức Phật nhập Niết Bàn

Đức Phật nằm một cách b́nh an, thanh thản, mặt nh́n về hướng Bắc, đầu gối trên tay phải và tay trái để dọc theo thân. Ḷng bàn tay và bàn chân của Ngài có nét hoa văn của hoa sen, một trong 32 tướng hảo và 80 vẻ đẹp của Phật. Thánh tượng thường được khoác một tấm y vàng bằng lụa mới, đẹp do các Phật tử thường xuyên cúng dường. Đứng thật lâu, chiêm ngưỡng tôn dung b́nh an của Ngài, chúng con không khỏi ngậm ngùi cho số phận hẩm hiu, thiếu phước của ḿnh. Chỉ tự trách ḿnh tham đắm ngũ dục lâu đời, nay chứng kiến thật cảnh đức Thế Tôn không c̣n trụ thế, như một tiếng sấm sét ngang tai nhắc ai c̣n mơ mộng. Nhưng kính lạy Ngài! Nghiệp chướng chúng con quá sâu dày, chỉ biết tự hỗ tự thẹn, đâu là nẽo đường giải thoát, chúng con c̣n măi t́m cầu, chưa có cơ duyên khám phá chân như thực tướng của ḿnh. Trong giây phút trang nghiêm im lặng tuyệt đối này, chúng con chỉ biết khấu đầu kính lạy chân Ngài, nguyện theo gương Ngài tiến lên trên đường tầm nguyên cứu cánh.

Sau khi nhiễu quanh kim thân Ngài ba ṿng, đàn con mồ côi quay gót ra ngoài và tiếp tục đi nhiễu một ṿng chung quanh tháp Niết Bàn ngay phía sau chùa. Ngôi tháp này được xây chồng lên ngay g̣ đất chính nơi đức Phật nhập diệt giữa hai cây Sala. Đại tháp chính được khai quật năm 1876, là một khối đá to lớn có đỉnh nhọn. Tháp có chung nền với chùa Niết Bàn, trên đỉnh tṛn của tháp là một h́nh trụ cao 5,5m có dấu vết điêu khắc một hàng hoa văn. Trước mặt khu chùa tháp chính là một vùng khảo cổ rộng lớn gồm nhiều nền móng của các tự viện, đền tháp mà ngày xưa người ta xây dựng để tưởng nhớ đức Thế Tôn nhập diệt và cũng đánh dấu đă có một thời nơi đây, các sinh hoạt Phật giáo rất hưng thịnh.

Trời cứ rỉ rả mưa những giọt nhè nhẹ, mưa rơi thênh thang. Cây cối, thảm cỏ rộng và xanh mướt đều đẫm ướt giữa bầu trời u tịch. Tôi cứ măi đắm ch́m trong một sự mất mát lớn lao, một ḿnh đi từ từ từng bước quanh khắp các chùm hoa, khóm lá, nh́n những cây Sala cổ rũ mắt u buồn ngơ lời tiếc thương. Tâm trí sau một hồi bấn loạn, lúc sực tỉnh th́ ḿnh đă về lại đến chùa Linh Sơn, cũng quên bẵng chuyện chụp h́nh kỷ niệm. Không biết có phải đây là sự mất mát của chuyên đi hay không. Kính lạy Phật! Con nghĩ bao nhiêu h́nh ảnh hoa ngàn cỏ nội ở đây làm sao có thể sánh bằng h́nh ảnh thật lớn lao trong tâm thức người con bất hạnh. Đó là h́nh ảnh của Đấng cha lành đang an nhiên từ thị trong cảnh giới vô ưu Niết Bàn. Ngài đang ở đâu, c̣n con đang làm ǵ. Phải chăng Ngài đă thể nhập trong con từ vô lượng kiếp, nhưng măi u mê mà không thấy được nguồn chơn.

Măi tự vấn, suy tư, mặc cho chiếc xe đă đưa chúng con đến nơi trà t́ lúc nào không hay biết. Tháp hoả thiêu nhục thể Như Lai cũng gọi là tháp Ramabhar toạ lạc trên con đường từ Kasia đến Deoria. Tháp nguyên thuỷ là ụ đá khổng lồ h́nh tṛn với đường kính 34,24m và trên cái bệ 47,24m, tháp cao 15,4m. Tháp trà t́ hiện nay được xây bằng gạch theo mô h́nh hài hoà của vũ trụ, tượng trưng cho năm yếu tố của đời sống là trái đất (bệ h́nh vuông), hư không, lửa, nước và ánh sáng. Tháp ngự trong một công viên đầy hoa tươi, cỏ xanh được chăm sóc cẩn thận.

Chúng con đảnh lễ, đi nhiễu quanh tháp, mắt không nh́n thấy nhưng trong tiềm thức cảm được bên phải ḿnh là một ngọn lửa Tam Muội, lửa Từ Bi to lớn đang bùng cháy, đánh tan năo phiền của vạn kiếp sanh linh. Con lạy rồi, đi nhiễu và chụp h́nh ảnh rồi, nhưng ḷng vẫn c̣n nhiều quyến luyến. Mặc cho trời mưa hay nắng, thời gian trôi về đâu, con cứ măi đi từng bước vô lự, đưa tay sờ từng viên gạch cũ kỹ rêu phong. Ḷng cứ nặng nề thương cảm, thương cho ḿnh số kiếp trầm luân, bất giác không cầm được ḍng lệ tuôn tràn. Con chỉ biết tựa ḿnh vào tháp, cố níu kéo cho thật nhiều những phút giây mật thiết thiêng liêng.

Rời tháp trà t́, đoàn cô tử lại men theo lối cũ, viếng thăm địa điểm đức Phật uống ngụm nước cuối cùng, nhà của cư sĩ Thuần Đà và các chùa lân cận quanh vùng. Chùa Miến Điện, Tây Tạng, chùa Nhật nằm rải rác dọc theo con đường; nhưng đặc biệt nhất là chùa Thái Lan. Chùa này do chính phủ Thái ủng hộ cúng dường, là ngôi chùa khang trang nhất trong khu vực Kushinagar. Chùa có chánh điện rất to và thoáng, với mái ṿm màu vàng óng và mang nét nghệ thuật Phật giáo Thái Lan. Trong gian thờ chính có tôn trí xá lợi đức Phật. Xung quanh có nhiều pḥng học, giảng đường, pḥng nghỉ. Sân chùa rộng và dài, trồng nhiều hoa lạ, đẹp, những hàng liễu rũ xanh mượt không khác ǵ vườn thượng uyển. Nói chung là phong cảnh chùa rất hữu t́nh, phù hợp cho việc hành thiền tu tập của chư Tăng.

7 giờ sáng ngày 05-6, chúng tôi khởi hành đi Xá Vệ. Xá Vệ từng là một ḥn ngọc của vương quốc Kosala do vua Ba Tư Nặc trị v́ vào khoảng thế kỷ VI trước Tây lịch. Từ khi tịnh xá Kỳ Viên được thành lập, đức Phật đă đến đây nhiều lần để an cư kiết hạ trong các mùa mưa và giảng pháp cho chư Tăng. Cuộc đời của đức Thế Tôn đă gắn liền với địa danh này rất lâu. Đa số các kinh điển lưu truyền được thuyết giảng tại đây và lịch sử nơi này cũng đă để lại nhiều giai thoại quan trọng trong cuộc đời Ngài.

Nơi đây đă xảy ra cuộc nghị luận giữa đức Phật và lục sư ngoại đạo, cuối cùng đức Phật đă hàng phục họ. Khi nói đến Xá Vệ, chúng ta phải nói đến sự kiện mộ đạo của trưởng giả Tu Đạt (Cấp Cô Độc), ông đă mua khu vườn quư của thái tử Kỳ Đà và xây cất tịnh xá để cúng dường Tăng đoàn. Đây cũng là nơi đầu tiên việc tạc tượng Phật bằng gỗ ra đời do vua Ba Tư Nặc thỉnh cầu đức Phật.



(Xem tiếp kỳ 5)


Mục Đồng
 

 

Trang Văn Thơ: Trần Thanh Thiên

                                                     5