Trang Thơ và Truyện của Đinh Hữu Ân                |                 www. ninh-hoa. com

Đinh Hữu Ân
Sinh năm 1959
Quê quán: Dục Mỹ

 Cựu Học sinh các trường:

Tiểu học Tiến Đức.
Trung học đệ nhất cấp ở trường trung học VHQĐLS Dục Mỹ năm 1970-1974.
Trung học đệ nhị cấp tại trường trung học Trần B́nh Trọng
Ninh Ḥa
niên khóa  1974-1975.

Hiện đang sinh sống tại Dục Mỹ, Ninh Ḥa.

 

 

 

 

 

 


ĐƯỜNG ĐI ĐIỆU
Đinh Hữu Ân
 

 (Bài đă đăng trong ĐẶC SAN 8 Năm - Số 3
được đăng lại theo lời yêu cầu của Tác giả)


  

 

Khánh Ḥa là xứ Trầm Hương

Núi cao, biển rộng người thương đi về.

 

    Hai câu thơ trên là hai câu ca dao đă có từ xa xưa. Tôi nghĩ người xưa rất tinh tế khi chọn trầm hương làm cái nét đặc trưng cho xứ sở Khánh ḥa của ḿnh “ Khánh Ḥa, Xứ Trầm Hương”. C̣n “ Núi cao, biển rộng…” chỉ được phụ họa theo thôi bởi : “ Núi cao c̣n có núi cao hơn”, vả lại hầu như đất nước nào cũng đều có núi cả ! Ngay như câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” người xưa phải mượn núi Thái Sơn bên Trung Hoa để diễn tả sự to lớn và cao ngất của công cha… Song có nhiều núi c̣n cao lớn hơn núi Thái Sơn rất nhiều mà lúc bấy giờ người xưa chưa thể biết được. C̣n biển rộng ư? Khánh Ḥa thuộc miền Duyên hải Nam Trung bộ có chiều dài bờ biển khoảng 200 km trong khoảng 3200 km chiều dài bờ biển của Việt Nam, mà ba phần tư diện tích của trái đất là biển bao bọc một phần tư diện tích lục địa th́ 200 km bờ biển Khánh Ḥa là con số quá khiêm tốn.

     

     C̣n trầm hương th́ lại khác, đó là sản phẩm của một loại cây duy nhất được gọi là cây Dó. Bởi môi trường và điều kiện sống của cây Dó nên chỉ có một số ít quốc gia ở vùng Nam Á mới có loại cây này mà thôi. Việt Nam là một trong số ít quốc gia đó. Ngay tại Việt Nam cũng chỉ một vài nơi là có loại cây này mà trong đó có tỉnh Khánh Ḥa, đặc biệt là hai huyện ở phía bắc là Vạn Ninh và Ninh Ḥa.

 

     Thành phố Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Ḥa, là trung tâm hành chính, văn hóa thể thao…đặc biệt đây là một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam. Nha Trang có bờ biển rất đẹp, với 7 km chiều dài có h́nh ṿng cung nên chúng ta có thể ngắm được gần hết chiều dài của bờ biển khi ta đứng bất kỳ ở vị trí nào trên bờ biển. Tại khu vực trung tâm bờ biển, trước nhà Văn Hóa tỉnh và ngay trên quảng trường 2 tháng 4 – nơi thường tổ chức các lễ hội lớn, các sự kiện văn hóa, Festival biển, thi hoa hậu v.v… - sau khi dời đài liệt sỹ đến nơi khác, người ta định xây dựng tại đó đài hay tháp “Hoa Biển”ǵ đó, nhưng sau mấy năm công tŕnh này vẫn dang dở để rồi cuối cùng tại đó mọc lên một ṭa tháp khá cao, xinh xinh đầy vẻ mỹ thuật đứng chen vai với hằng hà sa số những nhà hàng khách sạn sang trọng, đó là Tháp Trầm Hương – dĩ nhiên tầm vóc của nó không thể so sánh với các ṭa nhà đồ sộ nhường kia, song vị thế để đặt nền móng của nó th́ hoàn toàn ngược lại - Theo tôi tháp mang h́nh dáng của một quả bắp chuối được cắt phần cuống rồi đặt dựng đứng. Và đó cũng chính là h́nh dáng của một lọn (thỏi) Kỳ Nam (sản phẩm rất hiếm và giá trị nhất của cây Dó trầm hương) mà người ta thường đồn đại.

 

     Như vậy, rơ ràng trầm hương có một chỗ đứng rất quan trọng trong đời sống văn hóa và là một trong những nét đặc trưng góp phần vào tiềm năng du lịch của tỉnh Khánh Ḥa Xứ Trầm Hương

 

      Trầm hương là sản vật rất quí giá đă được người ta khai thác và xử dụng từ rất xa xưa. Cách đây hơn hai ngàn năm, ba nhà Đạo sỹ đă dâng tiến Chúa Hài Đồng ba lễ vật quí báu và trầm hương là một trong ba lễ vật đó (Mt 2, 11). Chắc hẳn chúng ta vẫn c̣n nhớ những bài học Việt sử khi c̣n ngồi ghế nhà trường, trong thời Bắc thuộc, kẻ cai trị đă bắt dân ta phải xuống biển ṃ lấy ngọc trai, lên núi lên rừng lấy trầm hương, sừng tê giác, ngà voi v.v…để cống nạp cho triều đ́nh của họ.

 

      Đọc lại các sách cổ như Kinh Thánh, các truyện cổ của các xứ Ba Tư, Ai Cập, Hy Lạp, Trung Hoa… Hoặc xem những cuốn phim tái hiện các cảnh sinh hoạt thời cổ đại, chúng ta cũng thường thấy vào thời đó con người đă biết xử dụng trầm hương, đặc biệt là trong việc tế tự cùng các nghi thức tôn giáo: trong Phúc Âm Lc 1, 9 có đoạn “Ông Giacaria đă trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ Thiên Chúa”.Và từ cổ chí kim, từ các nghi thức hoành tráng của vua quan như thiết triều đăng cơ cho đến những lời cầu nguyện đơn sơ mộc mạc những của kẻ thứ dân mạt hạng, dù là chiếc lư đựng trầm hương bằng vàng đính ngọc quí giá hay chỉ một thẻ nhang giản dị, nhưng với ḷng thành kính th́ hương thơm của làn khói trầm ḥa quyện với từng lời kinh, từng lời cầu nguyện nâng ḷng người ta lên cùng Đấng Tối Cao trong ư thức tận hiến.

 

      Song cũng trong các cung điện cùng những đền đài xa hoa, những buổi yến tiệc thâu đêm của giới vua quan quí tộc. Mùi nước hoa, mùi rượu, mùi sơn hào hải vị, mùi da thịt chen lẫn với mùi trầm hương cũng cuốn hút người ta vào cơn lốc của sự tận hưởng sa đọa tột cùng.

 

      Như vậy trầm hương có ǵ đó gắn liền với sự linh thiêng huyền bí, song cũng vừa hiện hữu trần tục. Và ngay giữa cái truyền thuyết và thực tế ấy chỉ có dân đi điệu - những người đi t́m trầm- mới cảm nhận và nếm trải được cái niềm khát khao thăng hoa cùng nỗi thất vọng ê chề !...

      Năm ấy tôi học lớp 6 (1970),trong giờ Việt văn học về ca dao tục ngữ. Có một bạn trong lớp nêu lên một “thắc mắc”:

      - “ Khánh Ḥa là xứ trầm hương”, vậy trầm hương là ǵ vậy, thưa thầy?

      Câu hỏi bất ngờ gây hứng thú cho cả lớp kể cả các anh bạn thường hay lơ là trong các giờ học. Chắc hẳn đây cũng là thắc mắc chung của cả lớp nhất là những bạn thích t́m hiểu; lúc ấy trầm hương chỉ được nh́n thấy “khói” khi được xông trong các Thánh lễ ở nhà thờ hoặc trong các buổi cúng tế trong các đ́nh chùa nhưng chúng tôi không thể biết trầm hương có nguồn gốc như thế nào, là sản phẩm từ tay con người hay được khai thác từ thiên nhiên, là thảo mộc hay khoáng vật…?! Mọi cặp mắt ngây ngô đều hướng về phía thầy giáo như chờ đợi… Có lẽ về lĩnh vực này thầy giáo cũng chẳng có thông tin ǵ nhiều nên thầy chỉ trả lời một cách qua loa về tên khoa học, về các chủng loại với những cái tên bằng chữ ngoại quốc dài ngoằng, về các công dụng trong y học hay để làm hương liệu và để xông trong các nghi thức tôn giáo… Không nhớ lúc ấy tôi (và cả các bạn trong lớp nữa) có tiếp thu được chút ǵ hay không ?! Bởi những kiến thức ấy quá khô khan và cũng chẳng ảnh hưởng ǵ nhiều đến các bài học…! Chừng như đọc thấy trong ánh mắt đám học sinh của ḿnh chưa được thỏa măn cho lắm, thầy giáo bèn kể tiếp một câu chuyện có liên quan đến trầm hương đó là chuyện “Ngậm ngải t́m trầm” của nhà văn Thanh Tịnh. Câu chuyện mang đầy vẻ hoang đường thần bí, mặc dù thầy chỉ kể tóm tắt song cái chất kinh dị qua t́nh tiết câu chuyện cùng cái không khí rờn rợn đang khi nghe thầy kể ; với lứa tuổi học sinh lớp 6 chúng tôi th́ chừng ấy đă đủ thỏa mản được trí “ṭ ṃ” và đă làm nḥa cái “thắc mắc” ban đầu kia đi.

 

       Từ đó, trong tâm tưởng của tôi trầm hương trở thành một khái niệm ǵ đó rất mơ hồ hoang tưởng, vừa có vẻ huyền bí cũng vừa mang chút vẻ ma quái. Tôi cứ nghĩ chỉ có các thầy phù thủy ḿnh đầy pháp thuật bùa chú hoặc các vị pháp sư cao tay ấn có tài gieo quẻ bấm độn, rồi được một thế lực thần bí nào đó dẫn lối đưa đường vào tận những nơi “thâm sơn cùng cốc” đầy “ma thiêng nước độc” mới lấy được trầm hương mà thôi. Và những điều ấy nếu có th́ đă xảy ra rất lâu rồi trong quá khứ…

 

        Rồi câu chuyện “Ngậm ngải t́m trầm” mà thầy giáo kể năm nào cũng dần dà trôi vào quên lăng, tưởng chừng như đă ngủ yên và ch́m sâu theo cái quá khứ đầy bí ẩn của nó. Nhưng không !!! Trầm hương đă thức giấc vào đúng thời điểm thích hợp sau nhiều năm lặng lẽ và tạo nên một cơn sốt thực sự, đem đến bao mơ ước được “đổi đời”; với bao khắc khoải đợi chờ trong hy vọng có lúc rất mong manh; cùng với những niềm vui sướng tột cùng song cũng không ít những nỗi bất hạnh, chán chường !...

 

          Những điều viết dưới đây chỉ là những gom nhặt và trải nghiệm của tôi sau những chuyến đi điệu, và bởi lẽ tôi nào phải là nhà nghiên cứu nên không nhất thiết là hoàn toàn đúng, rất mong được thông cảm.

 

         Vào những năm đầu thập niên 80, cuộc chiến kết thúc đă mấy năm rồi nhưng những khó khăn do hậu quả của nó để lại th́ vẫn cứ dai dẵng. Trước đây Dục Mỹ quê tôi vốn là khu vực quân sự, mọi sinh hoạt đời sống hầu như đều nương theo đồng lương của lính. Sau năm 1975, cuộc sống có quá nhiều thay đổi ; không việc làm, chẳng nghề nghiệp nên đại đa số người dân quê tôi lâm vào cảnh cùng cực ! Nhất là vào năm 1979, nhiều căn nhà phải dần dần thu hẹp lại dù có thêm đông người hơn, những tấm tôn cứ lần lượt ra đi để đổi lấy cái ăn cho những người thân yêu mà nó từng che chở khỏi mưa khỏi nắng !! Nhiều người phải rời xa quê đến những nơi có đất đai ph́ nhiêu hơn để làm thuê, cuốc mướn… Và đúng ngay cái giai đoạn đầy khốn khó đó th́ Trầm Hương chợt xuất hiện như cơn mưa rào tưới xuống vùng cát sa mạc rát bỏng khô kiệt, như kẻ chới với giữa gịng vớ được khúc gỗ nổi. Có người c̣n nói Thượng Đế đă ban trầm hương để cứu dân Dục Mỹ… Song, con đường để t́m được trầm hương chẳng khác ǵ những câu chuyện “đi t́m kho báu” đầy phiêu lưu mạo hiểm mà điểm nhấn của nó chưa hẳn nằm ở chỗ là có t́m được hay không, hoặc được bao nhiêu. Theo tôi giá trị đích thực của câu chuyện chính là những gian nan thử thách, những hiểm nguy, những “kiếp nạn”…phải nổ lực trải qua. Không phải ai ai đi điệu cũng đều trúng mánh cả đâu, chỉ một số rất ít bầu (nhóm vài người cùng làm ăn chung) là có được niềm vui đó thôi nhưng lại được đồn thổi khắp nơi làm cho các bầu khác thêm hưng phấn và bừng thêm hy vọng. C̣n đại đa số là chỉ đủ mễ để trang trải chút ít cho gia đ́nh và lại sắm chuyến khác. Đồng thời cũng là những cơn ác mộng đối với không ít kẻ kém may mắn ; nhiều năm “chinh chiến” nhưng số lận đận vẫn luôn thất bại: xót đến nỗi đă bỏ nghề nhiều năm rồi mà tiền nợ sắm chuyến vẫn chưa trả hết ; nhiều người phải mất đi một phần thân thể v́ rủi ro gặp tai nạn ; nhiều người bị lạc sâu trong núi rừng trùng điệp mà không bao giờ t́m được lối về ; và cũng có người chết: trẫu được bầu bạn chôn cất vội vă vào một gốc cây hay hốc đá nào đó mà cho đến nay vẫn chưa được t́m thấy để đưa về quê mẹ !!!

 

          Nghe nói nghề đi điệu (khai thác trầm hương) đến Dục Mỹ từ những người dân Vạn Giả - một  huyện nằm phía Đông Bắc tỉnh Khánh Ḥa – Nghề này đă có ở đây từ rất lâu được lưu truyền qua nhiều thế hệ theo phương cách gia truyền (?). Những người đi điệu các thế hệ trước mà dân điệu sau này gọi họ với cái từ khá kính cẩn là “ Điệu Lăo”, họ đi điệu rất “điệu nghệ” và bài bản. Các thành viên trong bầu phải được chọn lựa khá kỹ lưỡng ; phải hạp tuổi, có mạng rừng núi, sức khỏe chịu đựng tốt, gan dạ.v.v… Ngoài ra họ cần phải biết tuân thủ một số điều lệ khác như phải tin tưởng vào các vị Thần linh của rừng núi mà họ gọi là “Bà Cậu”. Lời ăn tiếng nói cũng phải biết kiêng kỵ không những các từ đáng sợ như cọp: thầy, gấu: chiến sỹ áo đen, rắn: rau dài, bệnh: xe, chết: trẩu…mà c̣n phải kiêng cữ cả những từ rất b́nh thường như nấu: hong, cơm, gạo: mễ, ăn, uống: sóc, muối: diêm…Thí dụ muốn nói: nấu cơm ăn th́ phải nói là hong mễ sóc. Có những từ được kiêng cữ như rựa: rạ, nước: nác, đường: đàng, lửa: lả…đều là những từ địa phương rất thông thường của người dân miền Trung Trung bộ như Hà Tĩnh, Quảng B́nh hay Quảng Trị làm tôi có cảm tưởng như sự kiêng cữ này được phát xuất từ dân điệu của một trong các tỉnh thành này (?).

 

          V́ phải “ngậm ngải t́m trầm” nên những người “ Điệu Lăo” luôn đặt nặng yếu tố tâm linh, trước ngày đi: dực hay vực họ cúng kính để cầu an, đến cửa rừng hoặc nơi đóng trại: đôn để đi t́m cây Dó họ lại cúng để xin lộc Bà Cậu…Và bởi họ tin tưởng hoàn toàn vào sự ban ơn phát lộc của các vị thần linh nên họ rất chừng mực và ư thức trong việc chặt hạ cây Dó, chỉ những cây nào phát hiện dấu hiệu có Kỳ nam: hàng hoặc trầm có thể khai thác được th́ họ mới hạ cây để lấy. C̣n không th́ họ chỉ băm vạt vào thân hay rễ cây Dó – dân điệu gọi là mở miệng trầm – để rồi các thế hệ điệu sau này hoặc cũng có thể là chính con cháu họ có thể lấy được trầm hương được tạo thành từ những vết băm vạt đó ( bởi quá tŕnh để tạo trầm từ khi có vết thương là một thời gian rất dài).

 

          Suốt mấy chục năm chiến tranh, núi rừng luôn bất ổn, bom đạn thường xuyên cày xới nên chẳng một ai dám bén mảng vào rừng hay lên núi. Nghề đi điệu từ đó cũng dần trôi vào quên lăng, trầm hương đă “ngủ yên” một giấc dài bằng lời “ru” ŕ rầm của đạn pháo, và cũng chính những ḥn đạn mảnh bom đó đă gây cho cây Dó chịu biết bao vết thương “rỉ máu” để dân đi điệu sau này được hưởng nhờ không ít trầm hương từ những vết thương vô t́nh đó. Rồi chiến tranh kết thúc (1975), tiếng “ru” của bom đạn không c̣n nữa, trầm hương đă thức dậy mạnh mẽ hơn, thế hệ “Điệu Lăo” ngày xưa đă qua đi nhưng vẫn c̣n hậu duệ. Có thể một số ít “Điệu Lăo” ngày xưa c̣n quá trẻ nên c̣n sót lại hoặc những gia đ́nh có truyền thống nghề điệu đă được tiền nhân truyền lại.

 

           Dẫu biết rằng đây là một nghề gian khổ đầy hiểm nguy kề cận, dẫu biết rằng nghề này thường chỉ dành cho những người nô lệ khốn cùng của thời xa xưa nên chẳng ai muốn để con cháu ḿnh phải bước chân vào cái lối ṃn đáng quên ấy. Nhưng! Hoàn cảnh… quên làm sao được!!?

 

           Buổi đầu chỉ một số bầu đi điệu thuần túy, nghề này nhanh chóng tràn lan đến nỗi người ta gọi Vạn Giả là “Xứ Điệu”, c̣n dân điệu các nơi gọi dân điệu Vạn Giả là “Điệu Ṇi”, một vài người trong số đó có liên hệ anh em bà con với người Dục Mỹ nên đă dẫn họ đi vài chuyến. Lúc đầu rất ít ai quan tâm đến v́ họ rất dè dặt và âm thầm, sau đó bỗng dưng họ xây được nhà mới, sắm được xe gắn máy – tuy là xe cũ nhưng ở thời điểm đó rất nhiều người có được một chiếc xe đạp vẫn c̣n là điều mơ ước – cuộc sống của họ trở nên khấm khá hơn… Thấy hiệu quả, họ bắt đầu dẫn dắt thêm anh em ruột thịt, rồi bà con thân thuộc, đến bạn bè hàng xóm, đồng thời cũng có rất nhiều người đến năn nỉ xin theo. Rồi nhà nhà đi điệu, người người đi điệu, từ trai tráng đến trung niên ai có thể cơng nổi ba lô cho chuyến đi 15-20 ngày là dực được, cứ vậy nghề điệu lan nhanh theo cấp lũy thừa, Dục Mỹ cũng nghiễm nhiên trở thành “Xứ Điệu”, Dục Mỹ rộn lên khẩn trương như vào chiến dịch tổng động viên, cuộc chiến tương tàn không c̣n nữa mà đây là cuộc chiến điêu tàn, cuộc chiến chống nghèo đói. Đến lúc này th́ chẳng t́m đâu cho có đủ “ngải” để mà “ngậm” cho ngần ấy người nữa, thay vào đó là những viên kư ninh lạ lẫm đắng nghét để ngừa bệnh sốt rét, hằng ngày từng đoàn từng đoàn “quân” xanh mét vác ba lô lên đường với bao hy vọng dù biết rằng bao hiểm nguy, bao gian khổ bệnh tật và cũng có thể là thất bại ê chề đang chờ đợi phía trước. V́ gia đ́nh, v́ bản thân, v́ cuộc sống, v́ miếng cơm manh áo “sá ǵ đời trai”!!!

         

    “TẤP TỄNH NGƯỜI ĐI TỚ CŨNG ĐI”

 

      Phần sau xin mời quư vị “tùng đàng” với tôi trong những chuyến đi điệu ấn tượng mà tôi không thể nào quên được. Xin chào và hẹn găp lại.

 

 

 

 

  

 

 

Đinh Hữu Ân

Dục Mỹ ngày 30-01-2010.

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Đinh Hữu Ân           |                 www. ninh-hoa. com