Đầm Nha Phu - Ảnh: Dương Tấn Long

XỨ NINH: THẮNG CẢNH & DI TÍCH - Vinh Hồ

   
 XỨ NINH:  THẮNG CẢNH & DI TÍCH

 Phần (1)   |  Phần (2)  |   Phần (3)   |    Phần (4)   |   Phần (5)   |  Phần (6)  Phần  (7)  |

       Phần  (8)  |    Phần  (9)  |   Phần  (10)   Phần  (11)   Phần  (12)     Phần  (13)

     www.ninh-hoa.com
 

Bản Đồ Ninh Ḥa      Biển Đại Lănh     Vũng Rô      Núi Đá Bia     Đèo Cổ Mă    Chùa Xuân Tự


Phần 5:
 

B. DI TÍCH

Di tích tức là dấu tích của thời xưa c̣n để lại. Chúng tôi xin giới thiệu sơ lược một số di tích của xứ Ninh như sau:
 

ĐỀN AN LƯƠNG

Thuộc thôn An Lương, huyện Vạn Ninh, có lẽ lập vào thời Vĩnh Hựu (1735-1740) hoặc thời Cảnh Hưng (1740-1786) cùng thời với Đền Quá Quan ở thôn Xuân Phong, huyện Vĩnh Xương.

Đền thờ Nữ Thần Thiên Y A Na, Thần Bạch Mă, Thần Thủy Hoàng và Thần Thành Hoàng.
 

ĐỀN MĂ CẢNH

Nằm tại đèo Cổ Mă cạnh Quốc lộ 1 thờ Thần Chúa Vàng Chúa Sắt, xây cất thời nào không rơ nhưng đă quá cũ kỷ và hư sập nhiều nơi. Phong cảnh trên non dưới biển trông rất hữu t́nh. Ở Phú Yên tại núi Nhạn Tháp có đền thờ Bà Chúa Sắt được các Vua nhà Nguyễn phong tặng là: "Thượng Đỉnh Chúa Thiết Bà". Đền Mă Cảnh không biết có phải thờ vị Nữ Thần đó chăng?

Cây Đa trên Đèo Cổ Mă  - Ảnh: Hà Thị Thu Thủy  11/2004

Quách Tấn có cảm tác 10 câu thơ về Đền Mă Cảnh như sau:

Chúa Vàng Chúa Sắt là ai?
Một ṭa cổ miếu trong ngoài quạnh hiu!
Chim rừng chiu chít tiếng kêu
Biển khơi hờ hững nước triều xuống lên
Đường đời rộn bước đua chen
Đèo cao vực thẳm ghe phen hăi hùng
Gan vàng dạ sắt ai nung?
Nước non gánh nợ ai cùng chung lo?
Hương ḷng dẫu tắt c̣n tro
Mong sao vàng sắt giữ cho vững bền.
 

THÀNH HỜI TRÊN NÚI ĐÁ ĐEN

Núi Đá Đen cao 611 m thuộc xă Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, sắc đá đen như cháy và thường có nhiều chướng khí từ trong núi bốc ra. Trên núi c̣n dấu tích thành lũy Chiêm Thành gọi là Thành Hời. Trong khu vực thành có nhiều cổ miếu do người Việt cất. Dưới chân núi có một cái láng gọi là Láng Chu và một cánh đồng rộng chung quanh có núi bao bọc gọi là Đồng Xuân Sơn. Vùng này xưa kia là băi chiến trường giao tranh ác liệt giữa quân Chúa Nguyễn và quân Chiêm Thành.

Truyền rằng vào những ngày âm u gió lạnh hay những đêm trăng mờ, dân chúng thường nghe những tiếng khóc than và nh́n thấy những bóng ma không đầu chập chờn sau làn sương mỏng.

Thành Hời là một di tích c̣n sót lại của một quân đội hùng mạnh đă từng đánh chiếm và đốt rụi Kinh Đô nhà Trần.
 

NÚI ÔNG TÂY

Thuộc làng Phú Sơn, nay là làng Thạch Sơn, xă Ninh Trung, huyện Ninh Ḥa, nằm sát con đường liên xă Ninh Phụng - Ninh Trung.

Trên Núi Ông Tây có đồn bót bằng xi măng cốt sắt rất kiên cố do quân Pháp xây vào cuối năm 1946 và đặt ở đó một đơn vị viễn chinh để khống chế con đường chiến lược ăn thông lên mật khu Đá Bàn trong cuộc chiến tranh Việt Pháp: 1945-1954. Hiện nay đi ngang qua núi vẫn c̣n nh́n thấy một lô cốt c̣n nguyên vẹn có những lỗ châu mai hướng ra mặt đường.

Núi Ông Tây là một di tích lịch sử tố cáo tội ác và ḷng tham vô đáy của bọn thực dân Pháp sau Thế Chiến thứ 2 vẫn c̣n nuôi ư đồ chó má đưa quân đội viễn chinh trở lại tái xâm lược nước ta gây ra 9 năm chiến tranh chết chóc và đói khổ không bút mực nào tả xiết.
 

LĂNG BÀ VÚ

Thuộc thôn Mỹ Hiệp, huyện Ninh Ḥa, cách quận lỵ Ninh Ḥa độ 1 km.

Kiểu thức rập khuông theo các Lăng Vua ở Huế, tuy không nguy nga tráng lệ bằng, nhưng ở Nam Trung Phần không có một ngôi mộ nào to lớn bề thế như thế.

Theo tác giả Thùy Trang chất liệu xây dựng là vôi, cát, gạch.

Lăng nằm trên một g̣ đất cao, dựa lưng vào một ngọn đồi nhỏ, day mặt về hướng Đông-Nam, nằm trên một khuôn viên h́nh chữ nhật gồm có 3 lớp thành:

Thành ngoài cùng: chiều ngang 12 m, chiều dài (tức chiều ra vô) 20 m, cao 1,5 m. Mặt trước có chừa cổng, 2 bên cổng có hai cây trụ lớn, trên mỗi trụ có đắp tượng một con lân màu hồng to lớn ngồi ngoảnh mặt ra hồ sen . Phía trong cổng có 1 án phong dài 3 m đứng chắn ngang. Lưng thành xây cao lên theo h́nh cánh cung.

Qua khỏi án phong là lớp thành thứ nh́: dài 12 m, rộng 9 m, cao 1 m, cửa thành núp sau án phong, 2 bên cũng đắp tượng 2 con lân màu hồng khá to ngồi ngoảnh mặt ra án phong.

Đi vào giữa, đến lớp thành trong cùng: thấp hơn ôm lấy phần mộ h́nh chữ nhật dài 3,1 m, rộng 1,8 m. Phía trước là nhà bia, văn bia bằng chữ Hán ghi rơ công đức người dưới mộ. Ở giữa là phần mộ. Phía sau, tại mặt thành h́nh cánh cung: trên vẽ lưỡng long triều nguyệt, dưới đắp h́nh thư kiếm, giữa là bài kư, ghi cảm tưởng của Vua Gia Long và ngày thàng kiến lập bằng chữ Hán. Những bức bích họa phía trong mặt thành đường nét màu sắc khá tinh xảo, phần nhiều là những tích cũ như ngư tiều canh mục, trúc lâm thất hiền, nhị thập tứ hiếu.

Trước lăng có một cái hồ sen h́nh chữ nhật chu vi khoảng 60 m có xây thành cao 4 tấc, hiện mọc lan đầy tre và cỏ dại, chẳng c̣n một bụi sen nào.

Truyền rằng khi Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đuổi chạy đến thôn Mỹ Hiệp th́ trời tối, bộ hạ mệt nhoài, đói lă, Nguyễn Vương lại thụ bệnh không thể đi được nữa. Có một bà già trong thôn thấy vậy thương t́nh mới mời tất cả về nhà làm heo nấu cơm thết đăi, cung cấp thêm lương thực để rạng ngày mai lên đường. Riêng Vương, bà lo thuốc men, vắt sữa ḅ cho uống và mang theo. Đến khi lên ngôi, Vua Gia Long chạnh nhớ ơn sâu mới xuống chiếu mời Bà ra Kinh Đô, nhưng khi sứ giả đến nơi th́ Bà đă qua đời. Nhà Vua thương tiếc xuống chiếu phong Bà là Nhũ Mẫu, tức Bà Vú. Năm 1803 Vua truyền Bộ Công lấy một số thợ đang xây cung điện đưa vào tận nơi cùng với thợ địa phương xây Lăng và cấp 1 số ruộng để làm kỵ điền giao làng sở tại lo việc hương khói. Mỗi năm vào ngày kỵ của Bà là ngày 12 tháng Chạp ÂL được tổ chức trọng thể có đông đủ quan phủ quan huyện, chức sắc và dân chúng tề tựu, có lễ nhạc trang nghiêm, và có quan Tuần Vũ Khánh Ḥa về đứng chủ tế.

    

Nhưng rồi qua thời gian, Lăng lại rơi vào quên lăng, đến nỗi con đường dẫn vào Lăng cũng không c̣n nữa. Có ngôi nhà của ai đă cất sát bên ngôi mộ, nh́n khói lam chiều hững hờ trên mái rạ mà tưởng chừng như hồn Bà c̣n lăng đăng đâu đây:

Hai trăm năm lặng lẽ nơi này
Khói lạnh nhang tàn với cỏ cây
Mấy lớp mừng quân hoa tím rụng
Bao phen chùm gởi lá đua bay
Trơ vơ núi Vọng sầu mây nước
Lờ lững sông Dinh đợi tháng ngày
Lân phục ngoài thành chờ sen mọc
Hồn xưa c̣n phảng phất đâu đây

     (Vịnh Lăng Bà Vú, Vinh Hồ)
 

MIẾU LỔ LƯỜN

Trên đảo Ḥn Đỏ nằm trong vịnh Vân Phong thuộc hải phận Ninh Ḥa các ngư phủ làm lưới đăng có lập một miếu thờ vị Nữ Thần đă lâu đời nhưng không ai biết danh hiệu. Gần miếu có một hang đá, trên vách hang có 1 chỗ g̣ lên rồi hơm sâu xuống trông giống như bộ phận sinh dục của phái nữ, nên ngư dân gọi trại đi là Lổ Lườn. Và miếu gần đó cũng được gọi là Miếu Lổ Lườn.

Truyền rằng Thần miếu linh thiêng. Đến mùa làm cá các ngư phủ phải sắm lễ vật ra đảo cúng tế. Xưa kia tế vật là một đồng nam hay một đồng nữ, các chủ lưới đăng phải thay phiên nhau cung cấp. Theo Quách Tấn "người ta thường mua trẻ em của đồng bào Thượng về tế Thần". Sau lệ tế bằng người bị cấm mới thay bằng tam sinh: ḅ heo dê làm thịt nhưng vẫn để sống nguyên con. Cúng xong, người ta về hết, lễ vật để y tại chỗ, sáng hôm sau đến xem th́ chẳng c̣n một thứ ǵ. Hiện nay việc cúng tế vẫn c̣n, nhưng không c̣n tế bằng người hay tam sinh nữa mà dùng đồ nấu nướng như mọi nơi. Nhưng có một nghi tiết từ xưa đến nay vẫn giữ, đó là sau khi cúng tế nơi miếu xong vị chủ tế phải đến hang Lổ Lườn trịnh trọng cầm khúc chày gỗ để sẵn thọc vào Lỗ Lườn 3 lần rồi mới lễ tất. Tục này do người Chàm truyền lại. Người Chàm có 1 bộ lạc thờ Thần Linga (Dương Vật) và Thần Yoni (Âm Hộ), tượng Thần hiện c̣n thấy đôi nơi. Tại Musée Chàm Đà Nẳng hiện c̣n 2 tượng lớn.

Lổ Lườn c̣n gọi là Lổ Đĩ Dàng. Dàng là tên 1 vị Thần của Chàm. Một số người Thượng cũng dùng tiếng Dàng để gọi Thần Linh.

Tại Vạn Ninh ở thôn Vĩnh Huề có một cái bàu gọi là Lổ Đĩ. Bàu nằm trong một cánh rừng h́nh bầu dục rộng chừng 5 sào ta sâu lút 1 cây sào chăn vịt. Tiếng Đĩ ở bàu này và tiếng Đĩ ở miếu Lổ Lườn chắc là đồng nghĩa.

Miếu Lổ Lườn là một di tích đặc biệt và độc nhất vô nhị trên toàn tỉnh Khánh Ḥa.

Những đền miếu cổ c̣n lưu lại rất có giá trị về mặt tinh thần v́ nh́n vào đó các nhà khảo cứu có thể t́m ra được ít nhiều dân tộc tính. Do đó việc tôn trọng và bảo tồn di tích hết sức quan trọng và cần thiết vậy.

 

Đọc:  Xứ Ninh: Thắng Cảnh và Di Tích  - 

 Phần 1       Phần 2       Phần 3       Phần 4       Phần 6     Phần 7    

 Phần 8       Phần  9      Phần 10    Phần 11   Phần 12   Phần 13

 

 

          VINH HỒ
(Orlando, Tháng 10/2004)

Tài liệu tham khảo:

Lược sử Chùa Thiên Bửu, 1993, Ban Hộ Tự và Tổ Sử
Lịch Sử Chùa Huệ Thành Hội Quán, Đường Sơn (Quách Cảnh dịch)
Lịch Sử Chùa Trường Thọ, Ban Hộ Tự
Lịch Sử Chùa Phật Học, Ban Hộ Tự
Sơ Lược Lịch Sử Chùa Khánh Long, Nguyễn Khánh Vân
Tiểu Sử Chùa Sắc Tứ Thiên Ân, Ban Hộ Tự
Lịch Sử nhiều Chùa đăng trên: www.ninh-hoa.com
  <http://www.ninh-hoa.com>
Đôi Nét Lịch Sử về Giáo Họ Mỹ Hoán, Linh mục Trần Văn Điện
Lịch Sử Thánh Thất Đại Cát, Hiền hữu Vơ Sự
Non Nước Khánh Ḥa, Nguyễn Đ́nh Tư
Xứ Trầm Hương, Quách Tấn
Ninh Ḥa Lịch Sử Khái Quát, Nguyễn Văn Thành
Dốc Lết, Dương Tấn Long
Lăng Bà Vú, Thùy Trang
Suối Nước Nóng Dục Mỹ, Phó Đức Lâm
Trở Về Thăm Suối Nước Nóng - Hà Thị Thu Thủy
Đặc san Khánh Ḥa Nha Trang, FL, TX, Nam CA, Bắc CA (nhiều số)
Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
Sài G̣n 300 năm cũ, Nguyên Hương Nguyễn Cúc
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thượng Tọa Mật Thể
Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thích Minh Tuệ