Đầm Nha Phu - Ảnh: Dương Tấn Long

XỨ NINH: THẮNG CẢNH & DI TÍCH - Vinh Hồ

   
 XỨ NINH:  THẮNG CẢNH & DI TÍCH

 Phần (1)   |  Phần (2)  |   Phần (3)   |    Phần (4)   |   Phần (5)   |  Phần (6)  |  Phần  (7)  |

       Phần  (8)  |    Phần  (9)  |   Phần  (10)   Phần  (11)   Phần  (12)     Phần  (13)


  
 
www.ninh-hoa.com

 

Bản Đồ Ninh Ḥa      Biển Đại Lănh     Vũng Rô      Núi Đá Bia     Đèo Cổ Mă    Chùa Xuân Tự


Phần 11:
 

THÁNH THẤT ĐẠI CÁT:

C̣n gọi là Nhà Thờ Cao Đài Đại Cát, tọa lạc tại làng Đại Cát, xă Ninh Phụng, huyện Ninh Ḥa.

Đạo Cao Đài tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc sáng lập tại Tây Ninh, truyền bá mạnh tại Tây Ninh, Sài G̣n ra đến Đà Nẳng.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Bến Tre gọi tắt là Cao Đài Bến Tre dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương truyền bá tại Bến Tre, Sài G̣n, Bà Rịa và một số tỉnh tại miền Trung, trong đó có Khánh Ḥa.

Thánh Thất Đại Cát thuộc Hội Thánh Cao Đài Bến Tre là một ngôi Thánh Thất cổ kính tại Ninh Ḥa được thành lập từ năm 1959 theo Đạo lịnh số 242 ngày 21-4-1959 của Hội Thánh Bến Tre cho phép Họ Đạo B́nh Thành xă Ninh B́nh huyện Ninh Ḥa được dời về làng Đại Cát, đổi hiệu là Thánh Thất Đại Cát để thờ Trời Phật theo tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Họ Đạo đă xây cất Thánh Thất Đại Cát trên một khoảnh đất tại thôn Đại Cát gần bên con đường liên xă Ninh Phụng-Ninh Thân (từ Xuân Ḥa đi Mỹ Hoán, Nhĩ Sự...).

Nguyên Đạo Cao Đài truyền đến Ninh Ḥa đầu tiên tại làng Mỹ Hiệp xă Ninh Hiệp huyện Ninh Ḥa tại tư gia của một bổn đạo lấy tên là Thánh Thất Mỹ Hiệp. Đến năm 1955 theo Đạo lịnh số 23 ngày 1-1-1955 của Hội Thánh Bến Tre cho phép Họ Đạo Mỹ Hiệp được dời về làng B́nh Thành xă Ninh B́nh huyện Ninh Ḥa đổi hiệu là Thánh Thất B́nh Thành, thờ Trời Phật theo tôn chỉ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chơn truyền do nơi Hội Thánh Bến Tre.

Hội Thánh Cao Đài được hoàn nguyên từ năm 1997, bước đường Đạo vẫn thăng tiến ngày càng hoằng dương chánh pháp phát triển trên tinh thần tốt đời đẹp đạo.

Hiện nay Hiền hữu Vơ Sự, Thánh danh Thái Sự Thanh là Thư kư Đầu Họ Đạo Thánh Thất Đại Cát.

Thánh Thất Đại Cát là một di tích cổ kính của đạo Cao Đài, một tôn giáo lớn tại VN hiện c̣n lưu tại Ninh Ḥa cách nay 45 năm.


Đ̀NH LÀNG:

Hầu hết người Xứ Ninh theo 6 tôn giáo lớn: Phật, Khổng, Lăo, Cao Đài, Thiên Chúa, Tin Lành. Tuy nhiên ngoài việc thờ cúng vị Giáo Chủ tôn giáo ḿnh, đa số người Xứ Ninh c̣n lo việc thờ cúng Tổ Tiên trong nhà và thờ cúng Thần Linh ngoài làng. Trong nhà có bàn thờ Ông Bà Tổ Tiên đặt ở gian giữa, ngoài làng có Đ́nh, Miếu, Miễu thường lập ở đầu làng bên gốc đa, gốc gạo, gốc thị, gốc me... Theo tập tục từ thời xa xưa, mỗi làng đều có một ngôi đ́nh, nhiều ngôi miếu và miễu. Đ́nh là ngôi nhà công cộng thường to lớn nhất làng dùng làm nơi thờ thành hoàng và nhóm họp việc làng. Miếu là đền thờ nhỏ c̣n miễu là ngôi miếu nhỏ.

Địa điểm xây dựng đ́nh miếu miễu phải do thầy địa lư xem ngày, chọn đất. Chọn đất phải lựa khu đất cao ráo thanh tĩnh theo thế "Tiền đê hậu cao" nghĩa là phía sau cao, phía trước thấp. Phía sau dựa lưng vào nơi cao như núi non g̣ đống... phía trước hướng về chỗ thấp như sông suối biển hồ đầm ao đồng ruộng... rộng răi quang đăng. Hai bên tả hữu có ruộng đất g̣ đống nối tiếp như hai cánh tay bung tṛn theo thế "Sa thủy lai long".

Đ́nh xây theo h́nh chữ "Nhất" ngày nay tuy có thêm bớt nhưng vẫn giữ bản sắc quê hương. Trên nóc đắp h́nh lưỡng long tranh châu, cổ lầu bốn mặt vẽ long lân qui phụng. Mái dưới 4 góc cong lên có đắp bao lơn. Các mái thường lợp ngói âm dương cổ kính. Trong đ́nh 4 cột chính to lớn bằng loại danh mộc. Trước chánh điện có bái đường là nơi lễ bái khi tế tự. Trong chánh điện có án tiền, án hậu. Án tiền có một cái khảm nhỏ thờ Sắc Thần có lộng che, hai bên có 2 giá ngũ bộ: búa, bát, nghêu, bản son, cây sóc nhọn làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Án hậu có một cái khảm đề chữ "Thần" to lớn viết bằng Hán tự là nơi dâng lễ vật khi tế tự. Án nào cũng đủ tam sơn ngũ sự, lư hương, chân đèn. Bên tả có bàn thờ Tả Ban liệt vị, bên hữu có bàn thờ Hữu Ban liệt vị. Bán đường là nơi trải chiếu làm lễ, bên hữu có giá trống, bên tả có giá chiêng, ở giữa có bảng lớn đề hiệu đ́nh.

Bên cạnh đ́nh về phía Đông là nhà Đông có 36 cây cột là nơi hội họp, ăn uống trong ngày tế lễ hay bàn bạc việc làng. Phía Tây đ́nh là Miếu Tiền Hiền thờ các bậc tiền bối khai khẩn lập làng, hoặc Miếu Âm Cô thờ cô hồn uổng tử mồ xiêu mă lạc và chiến sĩ trận vong không người cúng quảy. Phía sau có nhà Trù là nơi để nấu nướng.

Việc tế tự tùy theo địa phương, mỗi năm 2 kỳ gọi là Xuân kỳ Thu tế. Xuân kỳ cúng vào mùa Xuân, khoảng tháng Hai hay tháng Ba. Thu tế cúng vào mùa Thu khoảng tháng Tám hay tháng Chín. Có nơi cúng Xuân chung với cúng Thanh Minh, cúng Thu chung với cúng Thượng Điền, hay tất cả cúng chung một lần vào lễ Xuân kỳ.

Trước năm 1975, làng có trích ra năm ba sào ruộng cho Đ́nh gọi là ruộng Tiền Hiền để chi tiêu trong việc tế tự, cử một ông Từ Đ́nh để lo việc nhang khói trong các ngày Sóc Vọng và bầu ra một Ban Tổ Chức và Ban Tế Tự (Ban Nghi Lễ) để lo việc cúng Đ́nh thường được chuẩn bị trước một hai tháng, mời thầy Lễ, ban Nhạc, mua sẵn heo, ḅ là những việc phải lo trước.

Ban Tế Tự gồm chánh tế, bồi tế, tả ban, hữu ban... đă được chọn trước là các cụ già đạo cao đức trọng trong thôn, đủ vợ đủ chồng, không tang chế và tốt tuổi. Cử người thị lập có trách nhiệm châm tửu châm trà đứng sẵn tại mỗi bàn. Thầy Lễ và thầy Phụ Lễ điều khiển việc cúng tế, xướng và đọc văn tế. Tất cả phải mặc áo rộng xanh, đội khăn đóng chỉnh tề. Trước sân đ́nh dân chúng áo khăn đứng khoanh tay hầu lễ giữa hai hàng cờ xí tung bay. Trước án phong có dựng cột treo lá cờ lớn h́nh vuông thêu hiệu đ́nh bằng chữ Hán bay phất phới.

Lễ vật gồm có: Tại Án tiền có lộng che, cúng hương hoa trầm trà bánh rượu. Tại Án hậu cúng heo làm thịt để sống nguyên con, đầu đuôi, ḷng heo để sống, một tô huyết sống có một ít lông heo phía trên phất giấy hồng điều, ngụ ư loài người thuở ban sơ ăn lông uống huyết. Hai bên tả hữu mỗi nơi một vai heo, hoặc ba sườn để sống cùng trà rượu xôi bánh tráng nướng. Bàn thờ có hai bộ tam xên mỗi bộ một con cua, một miếng tộ, một hột vịt, tất cả đều luộc chín để trong dĩa. Thường trong các dịp tế tự phải mua đủ hương hoa trầm trà, khoảng vài ba chục nải chuối, mấy chục cây đèn, năm bảy con heo cùng gà, vịt, đồ nấu, gia vị... và tối thiểu phải có vài ba chục lít rượu gạo. Ngoài dân trong làng, Ban Tổ chức phải liên lạc mời những người dân làng đă đi lập nghiệp sinh sống phương xa cùng một số quan khách trong xă hay ở các làng lân cận về dự cho thêm phần long trọng.

Lễ cúng do thầy Lễ điều khiển kéo dài cả đêm cho đến mờ sáng th́ lễ tất, cộ bàn được hạ xuống nhà Đông, Ban Tổ Chức lấy thủ heo, nọng, ba sườn, xôi, bánh tráng... để làm quà biếu Chánh tế, Bồi tế, Đông Tây phân hiến (cho người mang tới nhà) và công đức Thầy Lễ, ban Nhạc. Sau khi ban ẩm thực nấu nướng xong, dân làng và khách khứa tụ họp ăn uống vui vẻ cho đến trưa xế mới kết thúc, cứ mỗi lượt 30 người, 10 người một bàn tṛn.

Ngày xưa việc cúng tế linh đ́nh hơn nhiều, có ngă ḅ ngă dê, mời đoàn hát bội về hát cả 10 ngày nửa tháng gọi là hát đ́nh, người ta đến xem đông như ngày hội, màn nào tŕnh diễn hay, người ta thúc trống chầu và quăng thẻ lên sân khấu tới tắp để thưởng diễn viên, thẻ sẽ được gom lại và quy ra thành tiền.

Tiếng đồn Điềm Tịnh chơi sang
Hát đ́nh nửa tháng bầu Đoàn chạy te

Tóm lại, Xuân Kỳ Thu Tế là hai ngày lễ thiêng liêng trọng đại trong làng. Vào 2 ngày này dân làng tập trung về Đ́nh trước để tỏ ḷng tri ân các bậc Thần Thánh, các vị Tiền Bối có công khai khẩn lập làng, các Chiến sĩ Trận vong đă bỏ ḿnh v́ Tổ quốc cùng tất cả những người khuất mặt, sau để nguyện cầu quốc thái dân an, xóm làng ḥa thuận, nhà nhà hạnh phúc, người người yên vui. Đồng thời cũng là dịp để họ gặp nhau hàn huyên tâm sự cùng nhau ăn uống vui chơi sau một năm dài làm việc cực nhọc. Đến ngày đó dù ai tha phương lập nghiệp nơi đâu cũng nhớ trở về.

Bản Văn Tế có nhiều đoạn, trước tiên nêu ngày tháng, xưng tên làng, tên người chánh tế... tiếp theo tŕnh bày lễ vật và "Cảm cáo vu" nghĩa là thành kính dâng lên 12 vị Thần cùng anh linh các vị tiền bối, chiến sĩ trận vong, tả ban hữu ban... có đọc rơ danh hiệu từng vị Thần. Tiếp nữa là "Viết" nghĩa là lời thưa. Sau cùng là tŕnh bày ước nguyện, gọi là "Tư Nhơn". Xin trích đoạn 'Tư Nhơn" đă được dịch ra quốc ngữ như sau:

"Nay nhơn lúc lễ tế Xuân đă đến, chúng tôi soạn sửa phẩm vật các thứ dâng lên chư Thần chiếu giám, kính mong phù hộ luôn luôn mưa thuận gió ḥa, đời đời dân chúng mạnh khỏe, của vật thêm nhiều, kẻ làm quan được thăng chức Đại Thần bổng lộc ngang hàng Tam Thai , học tṛ th́ được ghi tên bảng vàng lưu danh muôn thở, người làm ruộng th́ mưa thuận gió ḥa mùa màng tươi tốt khỏi lo nạn côn trùng chuột bọ phá hoại, người làm thợ th́ nghề nghiệp ngày một tinh thông, kỷ thuật ngày một tinh xảo, người buôn bán th́ lời nhiều hàng hóa đầy kho, cho đến trong làng già trẻ đều được yên ổn làng xóm đều được ḥa thuận an lạc. Ngưỡng mong Chư vị Tôn Thần ban ơn huệ tốt lành cho chúng tôi.

Cẩn cáo.
"

Nền nhân chủ làng xă lâu đời và t́nh làng nghĩa xóm cũng bắt nguồn và h́nh thành từ đây. Đ́nh làng trở thành một biểu tượng cao quư:

  Phép vua thua lệ làng
 Một miếng thịt làng bằng một sàng thịt chợ

Tuy nhiên qua thời gian cũng bị sai lạc nhiều. Có nhiều nơi v́ quá chú trọng vào h́nh thức lễ nghi bên ngoài mà quên đi nội dung cốt lơi bên trong, đ́nh làng biến thành nơi ăn trước ngồi trên, là chỗ để tranh ngôi giành thứ, phân biệt chiếu dưới chiếu trên nên đă gây ra lắm cảnh bất b́nh:

Người khôn ăn trước ngồi trên
Kẻ dại ra đứng hai bên cột đ́nh

Ngày nay trong thời đại văn minh khoa học, việc suy nghĩ, nghiên cứu và chọn lọc điều nào nên theo điều nào nên bỏ mà vẫn giữ được tinh thần cao đẹp của truyền thống văn hóa cổ truyền Việt Nam th́ thật là quư hóa biết bao!

 

  

 

Đọc:  Xứ Ninh: Thắng Cảnh và Di Tích  - 

 Phần 1       Phần 2       Phần 3       Phần 4       Phần 5     Phần 6    Phần 7

 Phần 8       Phần  9      Phần 10    Phần 11   Phần 12   Phần 13

 

 

          VINH HỒ
(Orlando, Tháng 10/2004)

Tài liệu tham khảo:

Lược sử Chùa Thiên Bửu, 1993, Ban Hộ Tự và Tổ Sử
Lịch Sử Chùa Huệ Thành Hội Quán, Đường Sơn (Quách Cảnh dịch)
Lịch Sử Chùa Trường Thọ, Ban Hộ Tự
Lịch Sử Chùa Phật Học, Ban Hộ Tự
Sơ Lược Lịch Sử Chùa Khánh Long, Nguyễn Khánh Vân
Tiểu Sử Chùa Sắc Tứ Thiên Ân, Ban Hộ Tự
Lịch Sử nhiều Chùa đăng trên: www.ninh-hoa.com
  <http://www.ninh-hoa.com>
Đôi Nét Lịch Sử về Giáo Họ Mỹ Hoán, Linh mục Trần Văn Điện
Lịch Sử Thánh Thất Đại Cát, Hiền hữu Vơ Sự
Non Nước Khánh Ḥa, Nguyễn Đ́nh Tư
Xứ Trầm Hương, Quách Tấn
Ninh Ḥa Lịch Sử Khái Quát, Nguyễn Văn Thành
Dốc Lết, Dương Tấn Long
Lăng Bà Vú, Thùy Trang
Suối Nước Nóng Dục Mỹ, Phó Đức Lâm
Trở Về Thăm Suối Nước Nóng - Hà Thị Thu Thủy
Đặc san Khánh Ḥa Nha Trang, FL, TX, Nam CA, Bắc CA (nhiều số)
Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
Sài G̣n 300 năm cũ, Nguyên Hương Nguyễn Cúc
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thượng Tọa Mật Thể
Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thích Minh Tuệ