TRƯỚC ĐÈN, ĐỌC CHUYỆN XƯA
Riêng tặng Từ tiên sinh!
Thanh
-T
hanh

                                                    
                                                     

Trong Đặc san Xuân Bính Tuất, của Website Ninh-Hoa.com, truyện ngắn “Ḥn đá San hô” của tác giả Nguyễn Thanh Ty, chỉ v́ một ư kiến bất đồng của một độc giả nào đó, cho rằng tác giả “bôi bác” nữ lưu Ninh Ḥa, mà người phụ trách Trang nhà đành phải đục bỏ để “chín bỏ làm mười", lấy câu " dĩ ḥa vi quí" cho vui vẻ cả làng.

Từ đó, bạn đọc khi đi dạo trong khu vườn Xuân Bính Tuất, www.ninh-hoa.com, bỗng "chưng hững" khi thấy ḿnh bước vào một nơi hoang vắng như sa mạc, khi bước qua cái cổng được “người giữ vườn” trang trí thật đẹp.

Vườn trống trơn không môt cành hoa, ngọn cỏ. Trông thật ảm đạm thê lương. Xa xa đằng góc vườn chỉ có tấm bảng con con ghi hàng chữ cáo lỗi: “Hoa độc có gai cần tiêu diệt".

Tấc đất tấc vàng, Thanh Thanh mỗ tôi tiếc hùi hụi, nhớ câu xưa của Ông Tú Xương, "thừa giấy làm chi chẳng vẻ voi", thấy miếng đất trống, bỏ không cũng uổng nên xin ông chủ vườn cho trồng quấy quá mấy cây hoa vạn thọ, tuy không thơm tho như hoa hồng, hoa lài nhưng cũng có chút màu vàng, màu tía cho vui mắt. Cho đỡ bớt cái không khí quạnh quẽ, lạnh lẽo nơi nghĩa địa.

Không dám vẽ voi, sợ không giống voi, chỉ giống có cái ṿi th́ độc giả lại chê bai và hiểu lệch lạc ra cái khác. Lại khổ!

Hai buội hoa vạn thọ dưới đây, một, được bứng từ bên Tàu và một, ở bên Ta. Dù Tàu hay Ta cũng cùng chung một ư là làm đẹp vườn Xuân.

Nói nôm na là, trích lục hai chuyện xưa vui vui, để “điền vào chỗ trống cho có nghĩa".

Chuyện thứ nhất ở bên Tàu: Hoàng khuyển ngọa hoa tâm!

Đời vua Tống Thần Tông bên Tàu (1068-1078), có tể tướng Vương An Thạch, ngoài tài kinh bang tế thế, trị quốc an dân ra, ông c̣n giỏi văn chương thi phú nữa.

Ông đặt ra tám điều Tân Pháp để cải cách về Tài Chánh và Quân sự của xă hội Trung Hoa thời bấy giờ.

Trong triều đ́nh có nhiều quan lại bảo thủ chống đối Tân Pháp ấy hay cố ư làm sai lạc đi. Trong số này có Tô Đông Pha, mới hai mươi tuổi đă đậu tiến sĩ.

Tô Đông Pha nổi tiếng là một thi sĩ, đại văn gia.

Họ Tô không những chống đối Vương An Thach về đường lối cải cách chính trị mà c̣n dám sửa cả văn thơ của Vương tể tướng nữa.

Trong một bài thơ Vương An Thach làm có hai câu như sau:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu* ( khiếu = hót)
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm*( tâm = chính giữa)

Tô Đông Pha chê Vương An Thach dốt, viết sai v́ cho rằng:

Trăng sáng làm sao mà hót trên đầu núi được?
Con chó vàng làm sao mà nằm
trong ḷng hoa được?

Thật là nực cười! Vậy mà làm tới chức tể tướng??? Ông bèn phóng bút sửa hai câu thơ trên lại như sau:

Minh nguyệt sơn đầu chiếu* (chiếu = sáng)
Hoàng khuyển ngọa hoa âm*(âm = bóng mát)

Dịch nghĩa là:

Trăng sáng chiếu trên đầu núi
Chó vàng nằm dưới
bóng
hoa.

Vương An Thạch biết chuyện, chỉ cười.

Tô Đông Pha sau bị đổi ra đất Hoàng Châu là nơi hoang dă, xa xôi. Nay là Hoàng Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc.

Một hôm ông đi dạo chơi nơi thôn dă, nghe thấy có con chim lạ hót rất hay. Hỏi nông dân ở đó là con chim ǵ vậy, mới biết con chim có tên là Minh Nguyệt.

Ông mới "ớ" người ra sửng sốt. Hóa ra, ḿnh nhầm. Tài sơ, trí siễn, hiểu biết nông cạn mà lại đi chê quan tể tướng viết bậy, viết sai. Chỉ biết có mỗi chữ "Minh Nguyệt" là trăng sáng!

Thời gian sau, ông lại giật ḿnh lần nữa. Lần này th́ rơ ràng là ông dốt thật chứ không phải họ Vương. Ở vùng này có một loài sâu tên là "Hoàng khuyển" chuyên ăn nhụy hoa. Ăn no rồi nằm ngủ và đẻ trứng ngay chính giữa cái hoa.

Vậy ra, tể tướng Vương An Thạch là người học rộng biết xa đă làm hai câu thơ rất thực tế:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa tâm

 

Là chính xác một trăm phần trăm.

Cái tội Tô Đông Pha là sớn sác. Chỉ biết có một mà hay làm lanh vậy.

Chuyện thứ hai ở bên Ta:   Phúc trung phục nhân sâm!

Có người đàn bà, chồng bị đau bụng, đang rên la đau đớn. Bà ta lật đật tới tiệm thuốc Bắc để hốt thuốc trị bệnh cho chồng. Đại phu của tiệm bận đi xa thăm người bệnh nên anh đệ tử thay Thầy bốc thuốc. Anh giở sách thuốc ra xem. Ở chương “ Trị đau bụng” có ghi: Phúc trung phục nhân sâm tức "đau bụng th́ cho uống nhân sâm”. Anh đệ tử cứ theo sách mà bốc thuốc.

Người đàn bà đem thuốc về cho chồng uống. Uống xong chén thuốc th́ ông ngă ra tắt thở. Chết. Bà đau khổ cho là chồng bị chết oan bởi tay đệ tử cho uống lầm thuốc, nên phát đơn kiện lên quan. Quan cho kêu "tay lang băm" lên công đường tra xét. Tay này kêu oan và mang theo cả sách thuốc lên để minh chứng.

Quan xem sách quả có ghi rơ ràng " Phúc trung phục nhân sâm", nhưng lật tiếp trang sau th́ thấy có thêm hai chữ: "Tất tử".

Té ra, sách căn dặn: "Phúc trung phục nhân sâm tất tử" nghĩa là: Đau bụng mà cho uống nhân sâm ắc bị chết.

Truyện không kể Quan xử phạt anh chàng "lang băm” kia ra sao. Nhưng chúng ta cũng thừa biết cái hậu quả sau đó không tốt ǵ mấy cho những người học chưa đến nơi mà dám làm càn.

Người xưa nói: "Tri chi vi tri chi! Bất tri vi bất tri! Thị tri dă!" tức " Biết th́ nói biết! Không biết th́ nói không biết! Tức là biết vậy!"

Tục ngữ ḿnh cũng hay răn: "Biết th́ thưa thốt. Không biết th́ dựa cột mà nghe" quả là chí lư lắm thay.

 


Thanh Thanh
    24/03/06

 



        Trở về www.ninh-hoa.com