|
|



Phần
2:
S ống
mãi với dư âm một "Trường
Tương Tư" của thi
tiên Lý Bạch đề cao tình yêu lãng mạn đối với người con gái đẹp, như những
bông hoa quí hiếm có trong khu vườn Đường Thi trùng trùng điệp điệp …
Trường Tương Tư - Kỳ nhất
李白
長相思之一
長相思,
在長安。
絡緯秋啼金井闌,
微霜淒淒簟色寒。
孤燈不明思欲絕,
卷帷望月空長歎。
美人如花隔雲端,
上有青冥之長天,
下有淥水之波瀾。
天長路遠魂飛苦,
夢魂不到關山難。
長相思,
摧心肝。
Trường tương tư,
tại Tràng An
Lạc vi thu đề kim tỉnh lan
Vi phong thê thê đàm sắc hàn
Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt
Quyển duy vọng nguyệt không trường thán
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan
Thượng hữu thanh mạc chi trường thiên
Hạ hữu lục thủy chi ba lan
Thiên trường địa viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan san nan
Trường tương tư, tồi tâm can
Lý Bạch
Bản dịch :
Trường Tương Tư
- bài 1
Trường An dằng dặc
nhớ nhau
Giếng vàng vọng tiếng dế sầu kêu thu
Lung linh sắc lạnh sương mù
Nhớ nhung da diết đèn lu mờ dần
Cuốn rèm ngắm nguyệt thở than
Người thương ẩn hiện sau tàn mây trôi
Trên cao xanh thắm khung trời
Dưới con nước biếc chơi vơi sóng sầu
Trời cao đất rộng hồn đau
Mộng hồn khó đến dãi dầu quan san
Tương tư hoài .. đứt ruột gan
Hải Đà phỏng dịch
Nỗi
nhớ tương tư càng da diết, càng sâu thẳm, thì nỗi đau càng khắc khoải và
tê tái biết chừng nào .."Nhất nhật bất kiến như tam thu hề "(một ngày
không gặp dài như ba thu ). Như trong một "
Trường tương tư
" thống thiết của Lương Ý
Nương:
Trường
Tương Tư
Lương Ý Nương
Hoa hoa diệp diệp
lạc phân phân
Chung nhật tư quân bất kiến quân
Trường dục đoạn hề trường dục đoạn
Lệ châu ngân thượng cánh thiêm ngâm
Ngã hữu nhất thốn tâm
Vô nhân cộng ngã thuyết
Nguyện phong xuy tán vân
Tố dữ thiên biên nguyệt
Huề cầm thướng cao lâu
Lâu cao nguyệt hoa mãn
Tương tư đàn vị chung
Lệ trích cầm huyền đoạn
Nhân đạo Tương giang thâm
Vị để tương tư bán
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương Tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy
Mộng hồn phi bất đáo
Sở khiếm duy nhất tử
Nhập ngã tương tư môn
Tri ngã tương tư khổ
Trường tương tư hề trường tương tư
Trường tương tư hề vô tận cực
Tảo tri như thử quải nhân tâm
Hồi bất đương sơ mạc tương thức.
Trường Tương Tư
Bản dịch
Tơi bời hoa lá rụng
bay
Nhớ chàng đâu thấy …tháng ngày đợi mong
Đau lòng thiếp xót xa lòng
Ruột rà quặn thắt từng dòng lệ tuôn
Một mình thiếp hiểu thiếp buồn
Ai người chia sẻ cội nguồn ưu tư
Mây tan gió thổi phù hư
Nguyệt Hằng xao động lòng từ tâm giao
Ôm đàn đứng giữa lầu cao
Trăng khuya nở đóa hoa đào nguyên tiêu
Tương tư gẩy khúc nguyệt kiều
Lệ châu lã chã hồn phiêu du sầu
Sông Tương thăm thẳm đáy sâu
Tương tư da diết nỗi sầu hơn sông
Sông có đáy dễ dò sông
Sầu tương tư chỉ mênh mông vô bờ
Đầu sông chàng đứng thẫn thờ
Bẽ bàng mình thiếp đợi chờ cuối sông
Nhớ thương xa cách mịt mùng
Nước sông thắm thiết ta cùng uống chung
Hồn mơ nhập cõi mông lung
Hẹn nhau chín suối ta cùng gặp nhau
Tương tư có bước qua cầu
Hẳn ai mới thấu nỗi sầu mênh mang
Trường tương tư mãi thênh thang
Nỗi thương vô tận cưu mang tháng ngày
Nếu mà hiểu được lòng này
Thà không quen biết phút giây từ đầu
Hải Đà (cảm dịch)
Chú thích:
Sông Tương phát nguyên từ tỉnh Quảng Tây, đổ vào hồ Động
Đình. Sông Tiêu, từ tỉnh Hồ Nam, đổ vào sông Tương (Trung quốc). "Sông
Tương" là biểu tượng "tương tư" của hai người yêu nhau phải xa nhau,
thương nhớ nhau, "người đầu sông Tương, người cuối sông Tương". Đời hậu
Chu, thời Ngũ-Quí ở tỉnh Hồ Nam vùng sông Tiêu Tương có nàng Ý Nương vừa
đẹp lại hay chữ . Ở trọ nhà nàng có chàng Lý Sinh hàn sĩ phong lưu tuấn tú
. Một đêm Trung thu hai người thưởng trăng gặp nhau trai tài gái sắc tâm
đầu ý hợp nên sau đó thường hay lui trao đổi tâm tình. Cha của Ý Nương là
Lương Công hay biết tức giận đuổi Lý sinh đi . Ý Nương lấy làm đau đớn
sinh bịnh mới làm khúc Trường Tương Tư mong gởi nguồn tâm sự cho người yêu
ở chân trời xa thẳm. Thơ ai oán, bày tỏ nỗi niềm nhớ thương sâu kín của
người thiếu nữ: "Chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương, cùng
uống nước sông Tương, song chẳng được gặp nhau". Ai đọc bài thơ cũng sa lệ.
Lý Sinh nhận được bài thơ , đau lòng xót ruột, cảm xúc vô cùng đầm đìa
nước mắt nhờ người mai mối đến năn nỉ với Lương Công xin hỏi cưới Ý Nương
. Ban đầu Lương Công còn dùng dằng sau đọc được bài thơ của con gái mình,
cảm động chấp nhận cho hai người thành duyên.
Chia tay buổi ấy cạn quỳnh tương
Bao giọt lệ nhòa bấy xót thương
Kẻ ở phôi pha nơi đất mẹ
Người đi trăn trở chốn tha phương
Ông Tơ khéo cợt duyên chia cách
Con Tạo khôn trêu cảnh hý trường
Bến cuối, giang đầu chung bóng nguyệt
Nhớ nhau cùng uống nước sông Tương
Cùng uống nước sông Tương
– Thu Hằng
Chính những nỗi lòng đau khổ đó là men rượu đắng cay đã
xây nên những áng thơ tình mỹ lệ, ngây ngất, dậy sóng, thành những khúc
giao hưởng mùa thu nhung nhớ với muôn ngàn âm thanh huyền diệu vang mãi
trong lòng, dào dạt và nồng nàn như trong nỗi nhớ tương tư thầm kín của
Huy Cận:
Người ở bên trời,
ta ở đây
Chờ mong phương nọ, ngóng phương này
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây
Vạn Lý Tình - Huy Cận
nỗi sầu nhớ bạn phương trời của Tú Xương:
Khi nhớ nhớ cùng
trong mộng tưởng,
Nỗi riêng riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là mưa gió
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng
Nhớ bạn phương trời -
Tú xương
nỗi tơ tưởng lãng mạn của Vũ Hoàng Chương:
Hai đứa xa nhau
một góc ngày
Trăng lên bên đó, lặn bên này
Nhớ nhau mà chẳng gần nhau được
Cùng ngắm trăng vàng một tối nay.
Vũ Hoàng chương
nỗi nhớ khát khao cuồng nhiệt của Tản đà:
Quái lạ ! Làm sao
cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu
Bốn phương mây nước, người đôi ngả
Hai chữ tương tư, một gánh sầu
Tương Tư - Tản Đà
hay trong khối sầu cô đơn khắc khoải ai oán não nề của Nguyễn Bính:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
M ùa
thu trong tôi thường mang nhiều hồi tuởng về những ngày tháng xa xưa thuở
ấu thời…Tuổi thơ của tôi gắn liền với vận mệnh của đất nước…Bằng đôi mắt
thơ ngây trong sáng, tôi đã chứng kiến chiến tranh cướp đi những gì thơ
mộng và lãng mạn nhất của những mùa thu tuổi trẻ…Bao mùa thu là đổ công
viên là mấy lần người trai trẻ phải ôm nỗi sầu tương tư xa gia đình vợ
con…Ba tôi và cha tôi đều là những hoa dù sáng chói đã từng hy sinh chịu
cảnh chia ly thê lương mà ra chiến đấu nơi biên cương xa xôi hiểm trở…Tâm
tình của ba tôi ngày đầu tiên ra hành quân trào dâng nhiều cảm xúc…
" Để trấn an vợ
tôi, tôi hứa từ nay, ra khỏi nhà đi hành quân, dù thế nào thì mỗi ngày tôi
cũng ráng viết một trang nhật ký gửi về cho nàng. Điều hứa này tôi hãnh
diện giữ được cho đến cuối cùng. Tôi đã dặn dò vợ con và gửi gấm ông bà
nhạc. Tuy được trấn an nhưng chắc cả nhà lẫn tôi vẫn bị ám ảnh bởi câu "
cô lai chinh chiến kỷ nhân hồi" ( từ xưa đến nay, ra trận mấy người trở về).
Vợ tôi lục lọi tìm kiếm và bỏ và bóp tôi mấy tấm hình nàng với 4 đứa con,
để " bồ đi xa, bồ nhớ đến mẹ con em "
Tôi sờ lên túi ngực, lấy chiéc bóp ra và ngắm hình ảnh vợ con đã để lại
miền hậu tuyến… "
Trích " Bác sĩ nhảy
dù- Y sĩ Thiếu tá Trần Đức Tường
"
Cảnh
chiến trường hãi hùng càng làm cho người lính tìm quên trong những giây
phút ngắn ngủi bên những dòng thơ văn. Thi ca trở nên tiếng nói tư duy cảm
xúc để người lính làm thơ lột trần cái não ruột của cảnh biệt ly hay gửi
gấm những nguyện vọng tha thiết yêu chuộng hòa bình, hay những lời trăn
trối đến hồng nhan…
NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ
Ta về đây sau
tháng ngày lưu lạc
Hận thù nào vẫn chất ngất trên cao
Ngoảnh mặt lại mái đầu xưa đã bạc
Quê hương ơi hồn ta ngập máu đào
Ta về đây bạn bè dăm ba đứa
Ðốt cuộc đời qua men rượu nồng cay
Tổ quốc ơi ta cúi đầu tạ tội
Ðời buồn tênh ta mãi kiếp lưu đày
Ta về đây màu cờ không còn nữa
Ðêm ngậm buồn rỉ máu mãi không thôi
Trời Việt Nam tháng ngày nào binh lửa
Ngày hồng hoang một thuở đã xa rồi
Ta về đây gục đầu bên gối mẹ
Mẹ Việt Nam đau khổ cả một đời
Ðàn con đi vẫn nghìn trùng xa thẳm
Ðêm chập chùng xứ lạ đẫm mưa rơi
Khiếu Long
Nghĩa phụ tôi ," Mặt Trời " bao năm của tiểu đoàn 3 nhảy dù, đã làm một
bài thơ vào mùa thu 1966 trong một cuộc hành quân tại tỉnh Kontum, Cao
Nguyên miền trung. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc từ cuối
thập niên 60 và đã phát thanh trên đài BBC vào khoảng giữa thập niên 80
trong chương trình tiếng Việt khi có tin đồn cha tôi đã chết trong tù cải
tạo tại miền Bắc.
Gửi về bên ấy
Trần Nhất Lang
(1966).
Gió thu về mặt Hồ
Gươm gợn sóng
Nhìn liễu buông em có thấy xôn xao
Vẫn vầng trăng của mười mấy năm nào
Em có thấy dáng anh buồn trong đó.
*******
Mỗi thu sang em có còn đan áo
Gửi cho anh như thuở mới yêu nhau
Và giấc mơ là chú rể, cô dâu
Còn ấp ủ hay đã thành góa phụ.
******
Ôi thương nhớ biết làm sao nói được
Em của anh, thu Hà Nội ngày xưa
Chiều hôm nay khi nghe gió sang mùa
Xin cầu nguyện cho chúng mình gặp lại.
Chinh
chiến đã không còn nữa...Giờ đây nơi quê lạ xứ người, nhìn từng chiếc lá
thu vàng bay trong gió...tôi bỗng bồi hồi xúc động nhớ đến bài thơ tuyệt
tác về mùa thu của đại thi hào Pháp Paul Verlaine đã từng viết:
CHANSON D'AUTOMNE
Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deça delà
Pareil à
La feuille morte...
Paul Verlaine
Bản dịch:
Tiếng đàn ai đó
lê-thê
Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ niệm theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi...
Lãng Du
Thu
về cho ta bao hoài nhớ... Bao mùa thu đã trôi qua, cho dù thu buồn hay vui
đều để lại trong tôi những bâng khuâng xao xuyến mỗi khi tôi nhặt chiếc lá
vàng rơi đặt vào lòng bàn tay...
Em ơi! chiều lá
rụng
Từng chiếc trong lòng tôi
Nhưng nào ai hay biết
Buồn như áng mây trôi
Hùng Vương đường lá
đổ - Hoa Sơn
Trên đất khách quê người hôm nay, tôi đang nắm lấy một chút hoài niệm mùa
thu vàng ...
Em và thu Paris
Tiểu Vũ Vi
Paris phố vẫn lao
xao
Sương vẫn phủ giải lụa đào
Trên lối xưa mang hoài niệm
Nghe ôi nhung nhớ xiết bao!
Paris ghế đá khuôn viên
Quen bóng em dáng ưu phiền
Nhặt lá rơi nơi bến lạ
Ép vào vở khúc thụy miên
Paris nắng không còn vương
Mưa thu vỗ giấc mộng thường
Sông Seine xinh màu mắt biếc
Sao em buồn đẫm lệ sương
Paris em mãi lang thang
Cây xơ xác lá úa vàng
Xa anh, lòng em hoang phế
Khép kín cửa ngõ hồn sang…
Paris, thu ly hương
27/10/2006
Tiểu Vũ Vi

Bài viết ngày hôm
nay Vi kính tặng hai người đã dồi mài cho Vi tình yêu về văn chương nghệ
thuật của nước nhà..
Vi cám ơn Ba đã
truyền cho Vi những đường nét điêu luyện của nghệ thuật viết văn...
Vi cám ơn Cha đã
dạy Vi những nét tinh hoa của thơ Đường luật...
Vi cám ơn chú Hải
Đà và Bác Lãng Du cho Vi mượn mấy bài dịch...
Vi cám ơn các bạn:
Thu Hằng, Hoa Sơn, Dạ Thảo, Phương Vy, anh Khiếu Long,
anh Thế Thôi, anh Dân Chu, anh Phạm Sĩ Trung, anh Kinh Luân, anh Mây, anh
Thành ...đã tặng cho Vi những tiểu phẩm để Vi đem vào bài viết của minh...
Bài viết này Vi
thương tặng Thu Hằng đã cho Vi thi ý...


Tiểu
Vũ
Vi
Paris, Thu ly hương
27/10/2006
|